Quyết định · BVHTT
Quyết định 01/1998/QĐ-BVHTT
Về Quy chế lưu chuyển xuất bản phẩm
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 30/07/1998
- Ngày có hiệu lực
- 14/08/1998
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Hướng dẫn thi hành (2)
- 79/CP — Quy định chi tiết thi hành Luật Xuất bản (06/11/1993)
- Không số — Xuất bản (07/07/1993)
Bố cục (20 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế lưu chiểu xuất bản phẩm. Bản quy chế được ban hành có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Quy định về nộp lưu chiểu tại điểm 9.2 Thông tư số 38 TT-XB ngày 7/5/1994 của Bộ Văn hoá Thông tin hướng dẫn thực hiện Nghị định 79/CP ngày 6/11/1993 không còn hiệu lực kể từ ngày quy chế ban hành kèm theo Quyết định này có hiệu lực. Điều 2. Các ông: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục xuất bản, Giám đốc thư viện Quốc gia, Giám đốc các Sở Văn hoá Thông tin, Giám đốc các nhà xuất bản và các cơ quan, tổ chức (bao gồm cả cơ quan nước ngoài và tổ chức quốc tế đóng tại Việt nam) có hoạt động xuất bản, in nhập khẩu xuất bản phẩm để phát hành chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Chương I — QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Lưu chiểu xuất bản phẩm là thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản, in, phát hành và lưu giữ xuất bản phẩm. Điều 2. Cục xuất bản chịu trách nhiệm trước Bộ Văn hoá Thông tin thực hiện việc nhận lưu chiểu và kiểm tra kịp thời những quy định đối với việc lưu chiểu và nội dung các xuất bản phẩm trong cả nước. Chương II — NỘP VÀ NHẬN LƯU CHIỂU Điều 3. Các cơ quan, tổ chức nói tại điều 1 quy chế này có trách nhiệm nộp lưu chiểu xuất bản phẩm theo quy định cụ thể như sau: Điều 4. Xuất bản phẩm nộp lưu chiểu phải đóng dấu "lưu chiểu": tờ khai lưu chiểu phải có dấu của cơ quan và chữ ký của người có thẩm quyền theo mẫu quy định cho từng đối tượng phải nộp lưu chiểu (nhà xuất bản, cơ sở in, cơ sở nhập khẩu). Điều 5. Nhà xuất bản, tổ chức, cơ quan nộp xuất bản phẩm lưu chiểu có trách nhiệm: Điều 6. Người nhận lưu chiểu của Cục xuất bản, Sở Văn hoá Thông tin, Thư viện Quốc gia có trách nhiệm ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, và ký vào tờ khai lưu chiểu khi có đầy đủ yếu tố sau: Điều 7. Người nhận xuất bản phẩm lưu chiểu phải vào sổ và giao cho chuyên viên chịu trách nhiệm đọc để kiểm tra ngay trong ngày nhận. Chương III — KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM Điều 8. Người nhận lưu chiểu của Cục xuất bản, Sở Văn hoá Thông tin các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu theo quy định sau: Điều 9. Cục trưởng Cục xuất bản, Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin có quyền: Điều 10. Việc kiểm tra nội dung và xử lý xuất bản phẩm lưu chiểu tại Cục xuất bản được quy định như sau: Điều 11. Việc kiểm tra nội dung và xử lý xuất bản phẩm lưu chiểu tại Sở Văn hoá Thông tin được quy định như sau: Điều 12. Cục xuất bản, Sở Văn hoá Thông tin có thể tổ chức mạng lưới cộng tác viên đọc kiểm tra xuất bản phẩm lưu chiểu để thực hiện nhiệm vụ quản lý nội dung theo quy định của Luật xuất bản. Điều 13. Chuyên viên kiểm tra xuất bản phẩm đọc theo mức độ quy định cho từng loại xuất bản phẩm cụ thể như sau: Điều 14. Cục xuất bản, các Sở Văn hoá Thông tin có trách nhiệm kiểm tra chất lượng kỹ thuật in, nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng kỹ thuật in theo tiêu chuẩn quy định. Chương IV — LƯU GIỮ XUẤT BẢN PHẨM LƯU CHIỀU Điều 15. Cục xuất bản, Thư viện Quốc gia, Sở Văn hoá Thông tin các tỉnh, thành phố tổ chức kho lưu chiểu để lưu giữ xuất bản phẩm. Điều 16. Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận xuất bản phẩm để kiểm tra chuyên viên kiểm tra giao toàn bộ xuất bản phẩm đã nhận cho cán bộ lưu chiểu. Chương V — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 17. Quy chế này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Điều 18. Trong quá trình thực hiện có gì vướng mắc hoặc cần bổ sung, sửa đổi thì Cục trưởng Cục Xuất bản, Giám đốc thư viện Quốc gia, Giám đốc các Sở Văn hoá Thông tin các tỉnh, thành phố và các đối tượng có liên quan báo cáo kịp thời để Bộ Văn hoá Thông tin xem xét giải quyết.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.