Quyết định · KL

Quyết định 90/QĐ-KL

Ban hành bản Thể lệ quản lý, sử dụng búa kiểm lâm

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
25/01/1983
Ngày có hiệu lực
01/04/1983
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (26 điều)

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo quyết định này bản Thể lệ quản lý, sử dụng búa kiểm lâm. Giao cho hệ thống tổ chức kiểm lâm nhân dân thực hiện việc đóng dấu búa kiểm lâm đối với tất cả các loại gỗ khai thác từ rừng ra, gỗ cây do tập thể và cá nhân trồng trên đất rừng.
Điều 2. - Kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1983 việc đóng dấu búa kiểm lâm đối với gỗ sẽ thực hiện thống nhất trong cả nước theo thể lệ quản lý, sử dụng búa kiểm lâm ban hành kèm theo quyết định này.
Điều 3. - Thủ trưởng các cục, vụ, viện có liên quan, các công ty, liên hiệp lâm công nghiệp, lâm trường trung ương, sở, ty, phòng lâm nghiệp, Chi cục kiểm lâm nhân dân, hạt kiểm lâm nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
Chương I — MỤC ĐÍCH SỬA DỤNG MẪU BÚA KIỂM LÂM
  Điều 1. - Tất cả các loại gỗ tròn (có đường kính đo đầu nhỏ từ 25 cm và chiều dài từ 1m trở lên) khai thác ở rừng tự nhiên, rừng trồng, gỗ cây do tập thể và cá nhân trồng trên đất rừng khi khai thác ra, phải được trình kiểm và đóng dấu búa kiểm lâm.
  Điều 2. - Việc đóng dấu búa kiểm lâm nhằm mục đích:
  Điều 3. - Búa kiểm lâm được đúc thống nhất để sử dụng ở các tỉnh, thành phố trong cả nước. Mặt dấu búa hình tròn đường kính 32mm, trong hình tròn có chữ KL và có số thứ tự thể hiện số hiệu của hạt, trạm kiểm lâm nhân dân (viết tắt là KLND) hoặc kiểm soát lâm sản (viết tắt là KSLS) ở địa phương.
Chương II — TRÁCH NHIỆM VÀ THỦ TỤC QUẢN LÝ, SỬ DỤNG BÚA KIỂM LÂM CỦA CƠ QUAN KIỂM LÂM NHÂN DÂN CÁC CẤP
  Điều 4. - Cục kiểm lâm nhân dân thống nhất chỉ đạo việc quản lý, sử dụng búa kiểm lâm theo đúng thể lệ này.
  Điều 5. - Chi cục trưởng chi cục kiểm lâm nhân dân, hạt trưởng hạt kiểm lâm nhân dân cấp tỉnh, thành chịu trách nhiệm quản lý việc sử dụng búa ở địa phương, đơn vị mình, ký quyết định giao búa cho cán bộ quản lý búa ở từng hạt, trạm kiểm lâm nhân dân hoặc kiểm soát lâm sản; thông báo việc sử dụng búa kểm lâm nhân dân cho các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp, các cơ quan, có liên quan như toà án, viện kiểm sát, công an, tài chính ở địa phương biết để tiện phối hợp công tác.
  Điều 6. - Hạt trưởng hạt kiểm lâm nhân dân hoặc kiểm soát lâm sản theo quyết định của chi cục tiến hành việc bàn giao búa cho cán bộ quản lý búa. Đối với hạt trưởng hạt kiểm lâm nhân dân cấp tỉnh thành phố sau khi ra quyết định giao búa thì tiến hành đồng thời việc giao búa cho cán bộ quản lý búa. Khi giao búa phải lập biên bản giao nhận.
  Điều 7. - Cán bộ quản lý búa chỉ được sử dụng búa trong khi tiến hành nhiệm vụ và trong phạm vi đại hạt quản lý của đơn vị; phải đóng búa đúng thủ tục quy định, phải ghi chép sổ nhật ký đóng búa kiểm lâm và báo cáo kết quả đóng búa cho hạt trưởng; không được sử dụng búa làm công việc khác, phải cấp búa vào hòm, tủ có khoá riêng; không được để mất, hư hỏng búa, nếu làm mất búa phải lập biên bản ngay có xác nhận lý do mất búa do hạt trưởng ký. Cán bộ quản lý búa phải trực tiếp đóng búa trực tiếp giám sát việc đóng búa.
  Điều 8. - Các đơn vị, cá nhân được phép khai thác gỗ phải trình kiểm và thống nhất với cơ quan kiểm lâm nhân dân về thời gian, địa điểm để kiểm điểm gỗ và đóng dấu búa kiểm lâm. Chậm nhất là 2 ngày sau khi được đơn vị cá nhân báo cán bộ kiểm lâm nhân dân phải có mặt để đóng dấu búa.
Chương III — QUY CÁCH ĐÓNG DẤU BÚA
  Điều 9. - Đối với gỗ khai thác thuộc kế hoạch của đơn vị quốc doanh lâm nghiệp (lâm trường, hợp tác xã... khai thác cho ngành lâm nghiệp) thì nơi tiến hành đóng dấu búa là kho 1; đối với gỗ khai thác của các đơn vị ngoài ngành lâm nghiệp thì nơi tiến hành đóng dấu búa là nơi tập trung bãi gỗ khai thác; đối với gỗ khai thác của cá nhân và gia đình theo chế độ lâm sản gia dụng thì tiến hành đóng dấu búa tại cội.
  Điều 10. - Dấu búa kiểm lâm đóng vào mặt cắt ngang đầu gỗ tròn hoặc trên thân cây gỗ ở điểm cách mặt cắt ngang 50 cm. Trường hợp đóng dấu búa vào thân cây thì trước khi đóng dấu búa phải bóc vỏ và vát bằng ở điểm sẽ đóng dấu búa một ô vuông cỡ 15 cm. Dấu búa phải đóng rõ ràng in rõ mặt dấu trên gỗ, nhất là số hiệu của hạt, trạm.
  Điều 11. - Đối với gỗ khai thác hợp pháp thì đóng 2 dấu búa, ở mỗi đầu cây gỗ đóng một dấu búa và chỉ đóng một lần. Trường hợp dấu búa bị mờ thì có thể đóng thêm một dấu búa ngay bên cạnh đó.
  Điều 12. - Đối với gỗ phạm pháp thì lập biên bản và chưa đánh dấu búa. Sau khi gỗ đã được xử lý thì đóng dấu búa như đối với gỗ hợp pháp.
  Điều 13. - Trong quá trình thực hiện, chi cục trưởng chi cục kiểm lâm nhân dân, hạt trưởng hạt kiểm lâm nhân dân cấp tỉnh thành phố trong những trường hợp cần thiết có thể quyết định việc thay đổi cán bộ quản lý búa, giao nộp búa, thay búa. Khi thay đổi số hiệu búa, thay đổi cán bộ quản lý búa, các đơn vị phải báo cáo về cục kiểm lâm nhân dân và có thông báo cho các cơ quan có liên quan như toà án, viện kiểm sát, công an, tài chính và đơn vị kinh doanh lâm nghiệp địa phương biết.
  Điều 14. - Trường hợp quyết định phải nộp trả lại búa là khi giải thể hạt, trạm trước đây được giao búa.
  Điều 15. - Những người làm nhiệm vụ kiểm thu lâm sản được trang bị đầy đủ dụng cụ kỹ thuật làm việc như giấy, sổ sách, bút bi, bút thước, cân, sắc cốt, đèn pin, pin, sơn mầu, tủ đựng búa...
  Điều 16. - Những người trực tiếp làm nhiệm vụ đóng dấu búa kiểm lâm (mỗi nhóm đóng búa có ít nhất 2 người làm nhiệm vụ đo, đếm gỗ, ghi chép sổ sách và đóng dấu búa) được hưởng mọi chế độ như người làm nhiệm vụ kiểm soát lâm sản lưu động.
  Điều 17. - Ngoài chế độ trên, những ngày trực tiếp đóng dấu búa kiểm lâm tại rừng thì mỗi người làm nhiệm vụ được hưởng tiền bồi dưỡng tính theo số cây gỗ được đóng dấu búa trong ngày, cứ một cây gỗ thì được hưởng 0,50đ (năm hào). Khi điều kiện kinh tế thay đổi, Cục kiểm lâm nhân dân sẽ báo cáo Bộ để quyết định thay đổi tiền bồi dưỡng cho phù hợp.
  Điều 18. - Những người có thành tích trong việc thi hành thể lệ quản lý, sử dụng búa kiểm lâm hoặc phát hiện những người vi phạm về thể lệ này xẽ được khen thưởng theo chế độ quy định chung hiện hành.
  Điều 19. - Người nào vi phạm những quy định trong thể lệ này, tuỳ theo tính chất của hành vi và mức độ vi phạm nặng hay nhẹ sẽ bị thi hành kỷ luật hành chính, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hiện hành.
  Điều 20. - Việc đóng dấu búa kiểm lâm thống nhất cả nước bắt đầu thực hiện từ ngày 1 tháng 4 năm 1983. Các dấu búa kiểm thu cũ hiện còn lưu hành ở các địa phương đều không có giá trị kể từ ngày 1 tháng 4 năm 1983 trở đi.
  Điều 21. - Các dấu búa đóng vào gỗ để ghi ký hiệu riêng của các lâm trường, trạm thu mua lâm sản, công ty lâm sản, chỉ có tính chất chỉ dẫn nơi xuất xứ, tuyệt đối không được làm theo hình tròn và có chữ KL như mặt dấu búa kiểm lâm.
  Điều 22. - Cục trưởng cục kiểm lâm nhân dân có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra thể lệ này.
  Điều 23. - Việc bổ sung, sửa đổi thể lệ này do Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp quy định.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.