Văn bản
Văn bản 98/NĐ
Ấn định chế độ nhân viên Bộ Quốc phòng
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 04/07/1949
- Ngày có hiệu lực
- 01/05/1949
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Hướng dẫn thi hành (1)
- 50 — Về việc tổ chức Bộ Quốc phòng (18/06/1949)
Bố cục (44 điều)
Điều 1. - Nhân viên quốc phòng được hưởng chế độ ấn định trong nghị định này. Điều 2. - Nhân viên quốc phòng sẽ xếp vào các ngạch Điều 3. - Số lương chính hàng tháng có thể tăng lên theo một tỷ lệ do nghị định ấn định hàng tháng, hàng năm, căn cứ vào giá sinh hoạt. Riêng về năm 1949, thì kể từ ngày thi hành nghị định này đến ngày 31/12/1949 tỷ lệ ấy ấn định là 40% lương chính. Điều 4. - Ngoài lương chính và tỷ lệ tăng, nhân viên quốc phòng còn được hưởng phụ cấp sau này: Điều 5. - Phụ cấp gia đình và phụ cấp đắt đỏ chỉ cấp cho vợ chính thức và cho con chính thức dưới 16 tuổi. Từ 16 đến 18 tuổi nếu còn đi học mà không đuợc nhà trường cấp dưỡng hay bị tàn tật không làm ăn được mới được hưởng phụ cấp. Điều 6. - Nhân viên phụ nữ mà chồng không giữ một chức vụ được hưởng lương bổng của Chính phủ thì được lĩnh phụ cấp cho con. Nếu chồng bị tàn tật, không làm ăn được thì được lĩnh cả phụ cấp cho chồng nữa (tính như phụ cấp vợ đối với chồng). Điều 7. - Nhân viên quốc phòng nhập ngũ sẽ hưởng một chế độ ấn định sau. Điều 8. - Nhân viên ngạch từ cán sự trở lên sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tuyển. Nhân viên ngạch tá sự sẽ do quyết định của Cục trưởng hoặc Giám đốc Nha tuyển. Quyết định này phải được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng duyệt y rồi mới thi hành. Điều 9. - Muốn được tuyển làm nhân viên quốc phòng cần có những điều kiện sau này: Điều 10. - Việc tuyển nhân viên vào các ngạch sẽ căn cứ vào trình độ văn hoá hay năng lực trong công việc. Nhân viên có thể lựa tiêu chuẩn lợi nhất cho việc xếp ngạch cấp của mình. Điều 11. - Trước khi được tuyển vào chính ngạch, nhân viên phải quan một thời kỳ tập sự từ sáu tháng đến một năm. Điều 12. - Nhân viên trưng tập sẽ được xếp vào ngạch cấp với những nhân viên có trình độ văn hoá hay năng lực tương đương trong thời kỳ tập sự. Nếu thời hạn trưng tập quá một năm thì tuy vẫn giữ chế độ trưng tập, nhưng về phương diện ngạch cấp, thời hạn một năm đó sẽ kể như thời hạn tập sự để thăng lên cấp trên. Điều 13. - Thương binh Cựu binh, muốn xin tuyển, sẽ được quyền ưu tiên, nếu đủ điều kiện và năng lực hoặc trình độ văn hoá. Điều 14. - Việc tuyển dụng những đồng bào miền núi sẽ tuỳ trường hợp quyết định. Điều 15. - Những nhân việc của các bộ khác, hoặc nhân viên Bộ Quốc phòng đã thôi việc trong một thời gian xin tuyển lại nếu đủ điều kiện được chấp nhận, sẽ tuỳ theo năng lực được xếp vào ngạch mới có một cấp tương đương với ngạch cấp cũ của mình. Điều 16. - Hạn thâm niên tối thiểu để được thăng lên cấp trên là hai năm, trừ trường hợp tập sự nói ở Điều 11 và 12. Điều 17. - Đối với những nhân viên có công trạng và thành tích đặc biệt thì có thể được đặc cách cho thăng cấp trước thời hạn thường lệ. Điều 18. - Đối với những nhân viên tòng ngũ thì thời gian tái ngũ sẽ tính vào hạn thâm niên trong ngạch cấp của mình. Điều 19. - Mỗi năm có 2 kỳ thăng thưởng vào ngày 6 tháng giêng là ngày kỷ niệm Tổng tuyển cử đầu tiên và ngày 19 tháng 8 là ngày kỷ niệm Cách mạng tháng tám. Điều 20. - Hồ sơ thăng thưởng nhân viên từ ngạch Cán sự trở lên sẽ do một Hội đồng thăng thưởng xét. Hội đồng thăng thưởng gồm có: Điều 21. - Hồ sơ thăng thưởng nhân viên ngạch tá sự sẽ do một hội đồng thăng thưởng xét. Điều 22. - Nhân viên ở bất cứ ngạch nào có thể xin qua một kỳ thi chuyên nghiệp để lên ngạch trên. Điều 23. - Những nhân viên đã tuyển trước ngày ký nghị định này sẽ được chuyển sang ngạch, cấp mới, căn cứ vào những tiêu chuẩn đã nói trên. Điều 24. - Hồ sơ chuyển ngạch các nhân viên từ cán sự trở lên sẽ do một hội đồng chuyển ngạch xét. Hội đồng chuyển ngạch gồm có: Điều 25. - Hồ sơ chuyển ngạch các nhân viên ngạch tá sự sẽ do một hội đồng chuyển ngạch xét. Điều 26. - Việc bổ nhiệm, thuyên chuyển nhân viên các ngạch định như sau: Điều 27. - Mỗi năm không có gì cản trở cho công việc mỗi nhân viên có thể được nghỉ ba mươi ngày (30) lĩnh cả lương và mọi khoản phụ cấp, kể cả thời gian đi về từ nơi làm việc đến nơi nghỉ phép. Điều 28. - Nhân viên đau yếu sẽ được vào điều trị ở các quân y viện, quân y xá và phải trả tiền sinh hoạt phí như quân nhân. Còn thuốc men thường dùng trong các bệnh viện và tiền ăn thêm, nếu y sĩ xét cần sẽ do công quỹ chịu. Điều 29. - Có bệnh tật cần phải nghỉ thì theo đề nghị của y sĩ, những nhân viên đã làm việc được từ một năm trở lên có thể được nghị ba tháng lĩnh cả lương chính, tỷ lệ tăng và phụ cấp gia đình. Điều 30. - Nhân viên phụ nữ trong thời kỳ thai sản được nghỉ hai tháng lĩnh cả lương và mọi khoản phụ cấp. Điều 31. - Nếu không có gì cản trở cho công việc, nhân viên có thể xin nghỉ dài hạn làm nhiều lần liên tiếp từ ba tháng đến ba năm (3). Trong thời kỳ nghỉ dài hạn nhân viên không được hưởng lương bổng. Sau 3 năm nếu nhân viên không xin tiếp tục công việc thì sẽ coi như từ chức. Điều 32. - Thể thức cho nghỉ cũng như thể thức tuyển vào ngạch Điều 33. - Khi nhân viên từ trần trong thời kỳ tại chức thì thân nhân sẽ được trợ cấp như sau này: Điều 34. - Trừ trường hợp phạm tội, phạm kỷ luật mà bị bãi chức và trường hợp xin thôi việc mà được chấp nhận, những nhân viên thôi việc vì những lý do khác được hưởng một khoản trợ cấp tính bằng 1 tháng lương chính và tỷ lệ tăng nếu đã làm việc từ 1 năm trở xuống và bằng 2 tháng lương chính và tỷ lệ tăng nếu đã làm việc quá 1 năm. Điều 35. - Nhân viên quốc phòng sẽ theo chế độ hưu bổng chung. Trường hợp những người không đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu bổng sẽ giải quyết sau. Điều 36. - Trong khi chờ đợi chế độ ấy, những nhân viên chính ngạch, không kể nhân viên tập sự và nhân viên trưng tập, sẽ phải nộp hàng tháng vào quỹ hưu bổng một số tiền hưu liễm bằng 10% lương chính, không kể tỷ lệ tăng hàng năm. Điều 37. - Hạn thâm niên tính từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 là ngày tuyên bố Độc lập, hoặc từ ngày nhận việc nếu vào làm việc sau ngày 2 tháng 9 năm 1945. Điều 38. - Nhân viên Bộ quốc phòng nếu vô cớ bỏ việc sẽ coi như quân nhân đào ngũ và bị truy tố trước toà án binh. Điều 39. - Nhân viên phạm kỷ luật có thể đưa ra trước một hội đồng kỷ luật. Điều 40. - Những nhân viên bị truy tố có thể bị huyền chức. Điều 41. - Trong trường hợp cần người giúp việc trong một thời gian, có thể tuyển nhân viên tạm thời. Điều 42. - Nghị định này thi hành từ ngày 1/5/1949 Điều 43. - Nghị định số 57-NĐ/CB ngày 16/8/1947 và những thể lệ cũ trái với nghị định này đều bãi bỏ. Điều 44. - Đổng lý Quân vụ, Đổng lý Sự vụ Bộ Quốc phòng các Cục trưởng và Giám đốc Nha chiểu nghị định thi hành./.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.