Văn bản · Hội đồng Bộ trưởng
Văn bản 217/HĐBT
Ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 14/11/1987
- Ngày có hiệu lực
- 14/11/1987
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Được hướng dẫn bởi (4)
- 29-TC/CĐTC — Quy định chế độ thu nộp ngân sách nhà nước và phân phối lợi nhuận đối với ngân hàng (10/08/1989)
- 14 TT/LB — Hướng dẫn về chế độ quản lý tài chính đối với các đơn vị kinh doanh vật tư thứ liệu (12/05/1989)
- 29-TC/CĐTC — Quy định chế độ thu nộp ngân sách nhà nước và phân phối lợi nhuận đối với ngân hàng (10/08/1989)
- 14 TT/LB — Hướng dẫn về chế độ quản lý tài chính đối với các đơn vị kinh doanh vật tư thứ liệu (12/05/1989)
Bố cục (62 điều)
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định của Hội đồng Bộ trưởng về đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh. Các quy định này được áp dụng để xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoá Nhà nước kể từ năm 1988. Điều 2. Bãi bỏ Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng số 76-HĐBT ngày 26-6-1986 về việc ban hành các bản quy định tạm thời về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở cũng như các văn bản kèm theo và thông tư hướng dẫn của các Bộ có liên quan đến Quyết định đó. Điều 3. Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan có liên quan theo quyền hạn và trách nhiệm của mình, ban hành các thông tư hướng dẫn áp dụng nội dung của Quyết định này. Điều 4. Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ thường xuyên theo dõi, đôn đốc thực hiện và lập báo cáo định kỳ hàng tháng, hàng quý về kết quả thực hiện Quyết định này cũng như đề xuất những kiến nghị bổ sung gửi đến Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng và Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương để tổng hợp trình Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng xem xét./. Phần Thứ I — : Điều 1. Mục tiêu và căn cứ xây dựng kế hoạch. Điều 2. Nội dung kế hoạch. Điều 3. Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đối với xí nghiệp công nghiệp quốc doanh. Điều 4. Về báo cáo và bảo vệ kế hoạch. Điều 5. Xí nghiệp được giao số hướng dẫn cho phần kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước chậm nhất là tháng 10 năm trước và được thông qua kế hoạch từ đầu tháng 12 năm trước để kịp thời chuẩn bị và triển khai sản xuất ngay từ đầu năm kế hoạch. Điều 6. Trong qua trình thực hiện xí nghiệp có thể đề nghị bổ sung thêm kế hoạch theo chỉ tiêu pháp lệnh. Nếu vì lý do khách quan không được cân đối các điều kiện vật chất, thiên tai, sự cố lớn, v.v... mà không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì xí nghiệp đề nghị cơ quan giao kế hoạch xem xét cho điều chỉnh. Cơ quan giao kế hoạch có trách nhiệm điều chỉnh kịp thời nhiệm vụ kế hoạch pháp lệnh giao cho xí nghiệp tương ứng với mức vật tư Nhà nước bảo đảm cho xí nghiệp. Điều 7. Kết thúc năm kế hoạch, giám đốc xí nghiệp có trách nhiệm gửi báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch toàn diện của xí nghiệp lên cơ quan giao kế hoạch, để xác định mức độ hoàn thành kế hoạch của xí nghiệp. Kết quả thực hiện kế hoạch pháp lệnh của xí nghiệp được tính tương ứng với số vật tư, năng lượng xí nghiệp thực tế nhận được từ các nguồn do Nhà nước cân đối. Trường hợp thấy có hiện tượng báo cáo của xí nghiệp không đúng sự thật, cơ quan này mới tiến hành kiểm tra tại xí nghiệp. Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác của báo cáo và xí nghiệp chịu trách nhiệm vật chất theo kết quả kiểm tra. Phần Thứ II — : Điều 8. Về lâu dài việc đảm bảo vật tư - kỹ thuật cho xí nghiệp dựa trên cơ sở lấy kế hoạch làm trung tâm, kết hợp với sự sử dụng đúng đắn mối quan hệ hàng hoá-tiền tệ, bỏ chế độ cấp phát vật tư, giao nộp sản phẩm, thực hiện chế độ mua bán vật tư và sản phẩm theo hợp đồng kinh tế. Điều 9. Mọi dịch vụ về vật tư do Nhà nước thống nhất quản lý cũng như vật tư thông dụng phải được đưa vào kế hoạch của tổ chức kinh doanh vật tư. Điều 10. Các cơ quan có thẩm quyền giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản lượng các sản phẩm chủ yếu hoặc giao đơn đặt hàng của Nhà nước phải phối hợp tính toán, trao đổi thống nhất với các tổ chức kinh doanh vật tư và đôn đốc, kiểm tra các cơ quan đó nhằm đảm bảo chỉ tiêu pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng phù hợp với khả năng đáp ứng vật tư, và phải chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu, đơn đặt hàng đó. Điều 11. Các xí nghiệp trọng điểm, có nhu cầu vật tư lớn và ổn định, được nhận trực tiếp vật tư từ cơ sở sản xuất hoặc từ bến cảng nhập khẩu theo chỉ tiêu kế hoạch và hợp đồng đã ký. Trong trường hợp xí nghiệp sản xuất vật tư bằng phương tiện vận tải của mình, thì xí nghiệp được bên kinh doanh vật tư thanh toán lại phần chi phí vận tải cần thiết. Phần Thứ III — : Điều 12. Đối với các sản phẩm là tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng trọng yếu được Nhà nước giao kế hoạch pháp lệnh, đơn đặt hàng, xí nghiệp có trách nhiệm bán cho các tổ chức kinh doanh vật tư, thương nghiệp quốc doanh hoặc thương nghiệp hợp tác xã được chỉ định, theo chỉ tiêu kế hoạch và hợp đồng được ký kết. Điều 13. Các xí nghiệp sản xuất ra sản phẩm trọng yếu, theo chỉ tiêu pháp lệnh có số lượng lớn và ổn định, các sản phẩm khó bảo quản, cần tiêu thụ nhanh hoặc những sản phẩm có bao bì chuyên dùng cần được thu hồi nhanh được bán thẳng sản phẩm của mình cho các tổ chức kinh doanh vật tư, thương nghiệp quốc doanh và các hộ tiêu thụ ổn định theo hợp đồng ký kết trực tiếp với các đơn vị này. Điều 14. Để tập trung huy động các nguồn hàng vào hệ thống thương nghiệp quốc doanh, các đơn vị thương nghiệp tổ chức nắm nhu cầu, thị hiếu của khách hàng; khai thác thêm vật tư ngoài danh mục do Nhà nước thống nhất quản lý để hỗ trợ cho xí nghiệp và chủ động ký hợp đồng mua sản phẩm của các xí nghiệp sản xuất. Điều 15. Đối với những sản phẩm trong danh mục, được sản xuất bằng vật tư chủ yếu do Nhà nước phân phối, nếu các tổ chức kinh doanh vật tư hoặc thương nghiệp quốc doanh không nhận ký hợp đồng mua hoặc không thực hiện đúng hợp đồng mua đã ký kết, thì xí nghiệp báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và cơ quan trọng tài kinh tế để giải quyết. Sau 30 ngày kể từ khi báo cáo mà cấp trên không giải quyết hoặc trả lời, xí nghiệp có quyền ký hợp đồng bán số sản phẩm đó cho các hộ tiêu thụ khác. Phần Thứ IV — : Điều 16. Xí nghiệp thực hiện hạch toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tự trang trải tài chính và kinh doanh có lãi. Nhằm mục đích đó xí nghiệp tổ chức sử dụng linh hoạt các nguồn lực của mình, lựa chọn những phương án kinh tế - kỹ thuật, phương án sản xuất - kinh doanh tổng hợp tốt nhất trên cơ sở hoàn thành kế hoạch pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng Nhà nước giao nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, làm giá trị tài sản của xí nghiệp và đóng góp vào ngân sách Nhà nước ngày càng tăng lên, hoạt động của xí nghiệp ngày càng mở rộng, đời sống của công nhân, viên chức ngày càng được cải thiện. Điều 17. Xí nghiệp chấp hành đầy đủ các quy định về kế toán thống kê thống nhất của Nhà nước; thực hiện nghiêm túc chế độ ghi chép ban đầu, chịu trách nhiệm bảo đảm sự chính xác của số liệu. Điều 18. Tài sản của xí nghiệp gồm tài sản cố định và vốn lưu động, thuộc sở hữu toàn dân được Nhà nước cấp ban đầu một lần tương ứng với nhiệm vụ thiết kế của xí nghiệp, và giao cho tập thể công nhân, viên chức xí nghiệp trực tiếp quản lý và sử dụng để phát triển sản xuất. Điều 19. Đối với tài sản cố định, xí nghiệp có nhiệm vụ sử dụng có hiệu quả cao, duy trì và phát triển năng lực và tổng giá trị của số tài sản cố định đó nhằm đáp ứng nhiệm vụ sản xuất ngày càng tăng. Xí nghiệp có nhiệm vụ thường xuyên thay thế, đổi mới tài sản cố định cho phù hợp với yêu cầu sản xuất và yêu cầu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất. Điều 20. Toàn bộ tiền trích khấu hao cơ bản tài sản cố định đều để lại cho xí nghiệp. Đối với những công trình kinh tế mới đưa vào hoạt động, có vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn, Nhà nước huy động một phần vốn khấu hao cơ bản vào ngân sách Nhà nước. Bộ Tài chính trình Hội đồng Bộ trưởng quy định cụ thể về việc này. Điều 21. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của xí nghiệp để đầu tư chiều sâu hoặc mở rộng được xác lập từ các nguồn tiền khấu hao cơ bản đã trích, một phần quỹ khuyến khích phát triển sản xuất, một phần quỹ phúc lợi từ lợi nhuận để lại của xí nghiệp và nếu thiếu vay Ngân hàng hoặc huy động vốn từ các nguồn khác như quy định tại điều 22. Điều 22. Vốn lưu động định mức của xí nghiệp được Nhà nước cấp ban đầu một lần. Trường hợp Nhà nước điều chỉnh giá thì mức vốn đó được Nhà nước xác định lại và bổ sung kịp thời khi cần thiết ngoài vốn Nhà nước cấp, xí nghiệp được tạo vốn bằng cách trích từ lợi nhuận để lại cho xí nghiệp; vốn vay Ngân hàng, kể cả vay bằng ngoại tệ; vay của các đơn vị kinh tế khác và vay vốn của nhân dân, vay vốn của Kiều bào hay vay vốn nước ngoài theo nguyên tắc xí nghiệp phải bảo đảm sản xuất có hiệu quả, tự trả đủ vốn và lãi cho người vay và có tích luỹ. Điều 23. Xí nghiệp được tính vào giá thành sản phẩm các yếu tố sau đây: Điều 24. Lợi nhuận để lại xí nghiệp được xác định trên cơ sở tổng doanh thu thực hiện (giá tiêu thụ) trừ (-) giá thành sản phẩm, trừ (-) các khoản nộp ngân sách trừ (-) các khoản nộp lãi, nộp phạt đã hình thành. Điều 25. Việc nộp đúng và đủ thu quốc doanh, trích nộp lợi nhuận và các khoản thu khác vào ngân sách Nhà nước theo thể chế hiện hành là nghĩa vụ bắt buộc đối với xí nghiệp. Điều 26. Xí nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu và có quỹ ngoại tệ phải chấp hành các nhiệm vụ thanh toán, thu nộp ngân sách và sử dụng ngoại tệ theo quy định hiện hành của Nhà nước. Phần Thứ V — : Điều 27. Đối với các sản phẩm thuộc danh mục Nhà nước thống nhất quản lý giá: Điều 28. Xí nghiệp được quyền quyết định hoặc thoả thuận với khách hàng về giá các loại sản phẩm và dịch vụ sau: Điều 29. Xí nghiệp hoặc liên hiệp các xí nghiệp được Nhà nước cho phép trực tiếp ký kết hợp đồng xuất, nhập khẩu với các tổ chức kinh tế nước ngoài thì có quyền thoả thuận với các cơ sở kinh tế có quan hệ liên doanh liên kết trong nước (và với các xí nghiệp trực thuộc, nếu là liên hiệp) về giá giao dịch (bao gồm cả giá vật tư, thiết bị, hàng tiêu dùng và giá sản phẩm làm ra), trên cơ sở hạch toán kinh tế, mỗi bên hợp đồng hoặc liên kết tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi và làm đủ nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước. Điều 30. Đối với sản phẩm và dịch vụ thuộc danh mục Nhà nước định giá: Điều 31. Đối với sản phẩm và dịch vụ ngoài danh mục Nhà nước định giá: Điều 32. Sản phẩm tiêu dùng và dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Nhà nước có cùng chất lượng, bán cho cùng một đối tượng, trên cùng một địa bàn thì không phân biệt nguồn vật tư đưa vào sản xuất do Nhà nước cung ứng theo kế hoạch hoặc do xí nghiệp tự kiếm đều phải bán theo giá thống nhất. Nhà nước quy định cơ chế thu bù chênh lệch đối với sản phẩm được sản xuất chủ yếu bằng vật tư do xí nghiệp tự kiếm; nếu chưa có cơ chế thu bù thì xí nghiệp được bán theo giá bán lẻ kinh doanh thương nghiệp (bao gồm cả tư liệu sản xuất) hoặc theo giá thoả thuận. Điều 33. Giá cả do cấp có thẩm quyền quyết định, bao gồm cả giá tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp, phải được công bố rộng rãi cho mọi người biết để thực hiện. Phần Thứ VI — : Điều 34. Xí nghiệp được mở tài khoản tại ngân hàng và phải gửi các loại vốn bằng tiền chưa sử dụng vào ngân hàng và được ngân hàng trả lãi. Điều 35. Các khoản thu chi tiền mặt của xí nghiệp đều gửi vào và lấy ra ở tài khoản của mình tại ngân hàng, trừ số thu chi tiền mặt cần dùng trong ngày theo chế độ quản lý tiền mặt của Nhà nước cho phép. Điều 36. Hàng năm xí nghiệp đăng ký quỹ lương với ngân hàng nơi xí nghiệp mở tài khoản. Các khoản chi lương, thưởng được dự trù trong kế hoạch tiền mặt hàng quý phù hợp với định mức tiền lương theo sản phẩm và theo mức độ thực hiện kế hoạch của xí nghiệp. Điều 37. Xí nghiệp có quyền yêu cầu ngân hàng thực hiện các quyết định chi cho mình trong phạm vi vốn của xí nghiệp còn ở các tài khoản tại ngân hàng. Điều 38. Ngân hàng thực hiện cấp phát thay tài chính vốn xây dựng cơ bản đối với các công trình mới hoặc đầu tư mở rộng theo kế hoạch của Nhà nước, theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước do tài chính chuyển sang. Điều 39. Các nguồn vốn do xí nghiệp huy động được để tự đầu tư xây dựng cơ bản khi chưa dùng đến phải gửi vào ngân hàng và được hưởng lãi. Điều 40. Xí nghiệp có ngoại tệ phải mở tài khoản và gửi hết số vốn ngoại tệ của mình vào ngân hàng ngoại thương. Ngân hàng bảo đảm giữ bí mật và tạo điều kiện sử dụng thuận tiện cho xí nghiệp, thông báo số dư hàng tháng cho chủ tài khoản. Điều 41. Xí nghiệp vay vốn phải trả lãi tiền vay cho ngân hàng. Căn cứ vào nghị định của Hội đồng Bọ trưởng số 99-HĐBT ngày 29-6-1987 và số 218-HĐBT ngày 19-11-1987 về lãi xuất tiền gửi và cho vay, Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước quy định các mức lãi xuất cụ thể trong từng thời gian phù hợp với từng loại vay và loại hình xí nghiệp, phân biệt lãi xuất vay bình thường và lãi xuất nợ quá hạn. Ngân hàng thực hiện chính sách tín dụng và lãi xuất ưu đãi đối với các xí nghiệp sử dụng vốn vay đạt hiệu quả kinh tế cao, tăng nhanh vòng quay vốn và trả nợ ngân hàng trước hạn. Điều 42. Xí nghiệp được quyền chọn thể thức thanh toán thích hợp (séc, uỷ nhiệm chi, chuyển tiền điện...) trong quan hệ mua bán vật tư hàng hoá đối với mọi khách hàng. Phần Thứ VII — : Điều 43. Hợp đồng kinh tế quy định quyền hạn và nghĩa vụ được thoả thuận giữa các bên ký kết theo đúng luật về hợp đồng kinh tế, là một căn cứ ngày càng quan trọng để xí nghiệp xây dựng và thực hiện kế hoạch. Ký kết và thực hiên hợp đồng là một nguyên tắc hoạt động của xí nghiệp. Mọi hoạt động trong sản xuất, kinh doanh (kể cả lưu thông, dịch vụ) của xí nghiệp có liên quan đến các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế và cơ quan Nhà nước, các đơn vị vũ trang khác đều đưa vào hợp đồng kinh tế. Điều 44. Xí nghiệp có thể gửi các hợp đồng kinh tế đã ký kết đến cơ quan trọng tài kinh tế để theo dõi và giúp đỡ thực hiện. Phần Thứ VIII — : Điều 45. Xí nghiệp có quyền trực tiếp tuyển chọn lao động theo sự hướng dẫn về địa bàn tuyển của cơ quan lao động hoặc đề nghị cơ quan lao động tuyển chọn lao động cho xí nghiệp theo tiêu chuẩn và yêu cầu của xí nghiệp. Điều 46. Đối với các xí nghiệp phải thường xuyên thay đổi địa bàn hoạt động như xây dựng cơ bản, giao thông, địa chất khi thì di chuyển sang địa bàn mới, xí nghiệp được đưa lao động kỹ thuật theo và tuyển lao động phổ thông tại chỗ. Điều 47. Từ nay xí nghiệp quốc doanh thực hiện việc chuyển dần từng bước chế độ tuyển dụng vào biên chế Nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động. Hợp đồng lao động do giám đốc xí nghiệp và người lao động thoả thuận và ký trên cơ sở những nguyên tắc và hướng dẫn do Bộ lao động - Thương binh và xã hội có sự tham gia của Tổng công đoàn Việt Nam xây dựng và ban hành. Điều 48. Giám đốc có quyền cho người lao động trong biên chế thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp họ vi phạm các quy định của Nhà nước hoặc vi phạm hợp đồng đã ký. Điều 49. Khi giám đốc cho thôi việc hoặc người lao động vì những lý do chính đáng muốn xin thôi việc phải báo trước ít nhất 30 ngày, và người lao động được giải quyết quyền lợi thôi việc theo quy định của Nhà nước. Điều 50. Mọi người lao động được thu nhập theo kết quả lao động của mình. Xí nghiệp căn cứ thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định để tính đơn giá tiền lương trong sản phẩm theo các định mức kinh tế - kỹ thuật đã được xác định hợp lý và chặt chẽ. Đơn giá đó được điều chỉnh theo tình hình giá cả biến động từng thời kỳ. Quỹ lương của xí nghiệp được xác định tương ứng với khối lượng sản phẩm và đơn giá tiền lương hợp lý. Điều 51. Từng thời kỳ, xí nghiệp phải có kế hoạch về biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, điều kiện lao động và tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đó. Điều 52. Xí nghiệp có trách nhiệm trích nộp đầy đủ đúng thời hạn quỹ bảo hiểm xã hội và tổ chức quản lý tốt các sự nghiệp bảo hiểm xã hội của người lao động trong đơn vị. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cùng các ngành liên quan xây dựng trình Hội đồng Bộ trưởng bổ sung sửa đổi các chế độ bảo hiểm cũ nhằm nâng dần tỷ lệ trích nộp quỹ bảo hiểm xã hội để từng bước hạch toán đầy đủ vào giá thành sản phẩm và bảo đảm nguồn chi cho quỹ này. Phần Thứ IX — : Điều 53. Nhà nước khuyến khích mọi xí nghiệp phát triển sản xuất hàng xuất khẩu để nhập khẩu. Xí nghiệp có sản phẩm xuất khẩu hoặc nhập khẩu đều có nhiệm vụ chấp hành và được bảo đảm quyền lợi theo chính sách và cơ chế xuất nhập khẩu của Nhà nước. Điều 54. Các xí nghiệp cỏ đủ những điều kiện sau đây được tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu hoặc hợp tác trực tiếp với nước ngoài: Điều 55. Khi hoàn thành kế hoạch pháp lệnh xuất khẩu, thực hiện đúng hợp đồng ký với nước ngoài, xí nghiệp được hưởng 10% ngoại tệ thực thu. Điều 56. Các xí nghiệp tiến hành xuất khẩu và nhập khẩu theo nguyên tắc: Điều 57. Xí nghiệp (liên hiệp) có sản phẩm xuất khẩu được cơ quan ngoại thương cấp thông tin về kinh tế và thị trường hàng hoá thế giới, được cử cán bộ đi khảo sát ở nước ngoài; được tham gia triển lãm, hội chợ quốc tế; được cử cán bộ tham gia các đoàn đàm phán với nước ngoài. Xí nghiệp tự chịu chi phí cần thiết cho các hoạt động đó. Phần Thứ X — : Điều 58. Quyền làm chủ tập của công nhân , viên chức trong xí nghiệp được xác định trong Quyết định số 182-CP ngày 26-4-1979 của Hội đồng Chính phủ, phải được thực hiện nghiêm túc.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.