Văn bản

Văn bản 04/CP

Về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
10/01/1997
Ngày có hiệu lực
10/01/1997
Hết hiệu lực
16/11/2004
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (10)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (32 điều)

Điều 1. Sử dụng đất không đúng mục đích:
Điều 2. Lấn, chiếm đất đai:
Điều 3. Làm giảm khả năng sản xuất đất nông nghiệp, lâm nghiệp:
Điều 4. Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác:
Điều 5. Tự tiện chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Điều 6. Tự tiện chuyển đổi, chuyển nhượng đất sử dụng không hợp pháp:
Điều 7. Cho thuê đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản trái với quy định tại Điều 78 Luật Đất đai:
Điều 8. Cố tình không kê khai, đăng ký hoặc kê khai, đăng ký sử dụng đất không đúng loại, hạng đất:
Điều 9. Kéo dài thời hạn bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình:
Điều 10. Vi phạm quy định về nộp lệ phí địa chính:
Điều 11. Kéo dài thời hạn chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
Điều 12. Gây cản trở cho việc giao đất, điều tra, xác định giá đất, đo đạc, lập bản đồ địa chính, xác định mốc giới địa chính, mốc trắc địa, thanh tra, xét khiếu tố và giải quyết tranh chấp đất đai:
Điều 13. Tự tiện di chuyển, làm sai lệch, hư hỏng mốc giới địa chính, mốc trắc địa:
Điều 14. Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất:
Điều 15. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban nhân dân các cấp:
Điều 16. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan Thanh tra Nhà nước chuyên ngành địa chính:
Điều 17. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan Thanh tra Nhà nước chuyên ngành về văn hoá thông tin, bảo vệ môi trường, đê điều, công trình thuỷ lợi, xây dựng, kiểm lâm, thanh tra quân đội cảnh sát nhân dân được quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất đai theo phạm vi chức năng quản lý Nhà nước của mình.
Điều 18. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai là 2 năm, nếu quá thời hạn nói trên mà hành vi vi phạm chưa bị xử phạt thì áp dụng biện pháp quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 11 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Điều 19. Uỷ quyền xử lý vi phạm hành chính:
Điều 20. Áp dụng các hình thức xử phạt:
Điều 21. Phạt cảnh cáo:
Điều 22. Phạt tiền:
Điều 23. Thu hồi đất:
Điều 24. Thi hành quyết định xử phạt hành chính:
Điều 25. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính:
Điều 26.
Điều 27. Tổ chức, cá nhân bị phạt có quyền khiếu nại quyết định xử lý vi phạm hành chính và tố cáo hành vi lạm quyền hoặc trái với pháp luật của Nhà nước đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai theo quy định tại Điều 87, Điều 88 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Điều 28. Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai có thành tích thì được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
Điều 29. Tổ chức, cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt theo các điều, khoản quy định tại Nghị định này; trừ trường hợp các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Điều 30. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký, những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 31. Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều 32. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình chỉ đạo việc thi hành Nghị định này./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.