Quyết định · Bộ Giao thông vận tải
Quyết định 05/2004/QĐ-BGTVT
Về việc ban hành Quy chế tìm kiếm - cứu nạn hàng không dân dụng
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 06/04/2004
- Ngày có hiệu lực
- 21/04/2004
- Hết hiệu lực
- 28/06/2007
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Hướng dẫn thi hành (8)
- 267/2003/QĐ-TTg — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hàng không Việt Nam (19/12/2003)
- 34/2003/NĐ-CP — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải (04/04/2003)
- Không số — Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (20/04/1995)
- 63-LCT/HĐNN8 — Hàng không dân dụng (26/12/1991)
- 267/2003/QĐ-TTg — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hàng không Việt Nam (19/12/2003)
- 34/2003/NĐ-CP — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải (04/04/2003)
- Không số — Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (20/04/1995)
- 63-LCT/HĐNN8 — Hàng không dân dụng (26/12/1991)
Bố cục (34 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế tìm kiếm - cứu nạn hàng không dân dụng". Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Bãi bỏ Quyết định số 219/TCHK ngày 01 tháng 01 năm 1989 của Tổng cục Hàng không dân dụng Việt Nam ban hành Điều lệ tìm kiếm cứu nguy và các quy định trước đây trái với Quyết định này. Điều 3. Các Ông (Bà) Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng các Vụ thuộc Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Điều 1. Điều 2. Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: Điều 3. Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm: Điều 4. Trung tâm Quản lý bay dân dụng Việt Nam có trách nhiệm: Điều 5. Các Cụm cảng hàng không khu vực có trách nhiệm: Điều 6. Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn có trách nhiệm: Điều 7. Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn, Trung tâm phụ cứu nạn có trách nhiệm thiết lập mạng thông tin liên lạc trực tiếp với: Điều 8. Mỗi đơn vị tìm kiếm - cứu nạn thuộc các Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn và Trung tâm phụ cứu nạn hàng không có trách nhiệm: Điều 9. Các Đội tìm kiếm - cứu nạn phải được cung cấp đủ các phương tiện và thiết bị để nhanh chóng tới được hiện trường và trợ giúp, cứu nạn kịp thời. Phương tiện thông tin liên lạc của mỗi Đội tìm kiếm - cứu nạn phải đảm bảo tức thời, nhanh chóng và tin cậy để liên lạc với các Đội tìm kiếm - cứu nạn khác hoặc các cơ quan, đơn vị quy định tại Điều 7 của Quy chế này. Điều 10. Điều 11. Điều 12. Mọi tổ chức, cá nhân nếu phát hiện tầu bay lâm nạn hoặc có lý do tin rằng tầu bay đang trong tình trạng khẩn nguy, phải thông báo ngay cho Trạm báo động thích hợp hoặc Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn hàng không có liên quan. Điều 13. Điều 14. Các Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn, Trung tâm phụ cứu nạn, các đội tìm kiếm - cứu nạn, khẩn nguy sân bay nhanh chóng triển khai lực lượng tìm kiếm - cứu nạn khi có sự cố, tai nạn xảy ra trong khu vực được phân công, phải hiệp đồng chặt chẽ với các cơ quan Không lưu, Kỹ thuật, Không báo, Khí tượng để nhận và chuyển mọi tin tức liên quan đến công tác tìm kiếm - cứu nạn và sẵn sàng ứng cứu khi có yêu cầu. Điều 15. Các Trạm báo động, các Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn hàng không khi nhận được thông tin tầu bay đang trong giai đoạn hồ nghi, giai đoạn báo động, giai đoạn khẩn nguy hoặc tai nạn phải nhanh chóng đánh giá, phân tích, xử lý thông tin và quyết định hành động phù hợp. Nếu thông tin nhận được không phải từ các cơ quan không lưu, Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn hàng không phải đánh giá, xác định giai đoạn tương ứng và phải thực hiện các phương thức áp dụng cho từng giai đoạn, cụ thể như sau: Điều 16. Trong giai đoạn hồ nghi hoặc báo động, khi nhận được thông báo không còn tình trạng khẩn cấp nữa, Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn hàng không chủ trì tìm kiếm - cứu nạn phải thông báo chấm dứt tình trạng khẩn cấp tới các cơ quan, đơn vị, lực lượng tham gia tìm kiếm - cứu nạn. Điều 17. Điều 18. Sau khi công bố giai đoạn khẩn nguy, Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn phải thông báo tới các Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn có liên quan tham gia tìm kiếm - cứu nạn và diễn biến tiếp theo trong quá trình tìm kiếm - cứu nạn, kết quả tìm kiếm - cứu nạn. Điều 19. Trong giai đoạn khẩn nguy, khi nhận được thông báo chấm dứt tình trạng khẩn cấp, Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn phải thực hiện các hành động cần thiết để kết thúc các hoạt động và thông báo cho Cục Hàng không Việt Nam, cơ quan, đơn vị, lực lượng tham gia tìm kiếm - cứu nạn. Khi nhận được những thông tin tiếp theo phải phân tích, đánh giá và phải thực hiện tìm kiếm - cứu nạn trở lại khi chứng minh được tính cần thiết. Điều 20. Trong giai đoạn khẩn nguy, việc triển khai công tác tìm kiếm - cứu nạn đã thực hiện quá 6 tháng tính từ ngày công bố giai đoạn khẩn nguy mà không có kết quả, Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn chủ trì tìm kiếm - cứu nạn báo cáo Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam để trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải xem xét và tuyên bố kết thúc việc tìm kiếm - cứu nạn. Điều 21. Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn chủ trì chịu trách nhiệm chuyển tới cơ quan không lưu đang cung cấp dịch vụ không lưu trong khu vực tầu bay lâm nạn những thông tin liên quan đến hoạt động tìm kiếm - cứu nạn để các tầu bay đang hoạt động biết và yêu cầu tầu bay trợ giúp tìm kiếm - cứu nạn, nếu có yêu cầu. Điều 22. Khi hai hay nhiều quốc gia thành viên chịu trách nhiệm vùng tìm kiếm - cứu nạn chung thì mỗi quốc gia phải có kế hoạch hành động phù hợp với kế hoạch hành động do Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn vùng yêu cầu hoặc phù hợp với văn bản thoả thuận tìm kiếm - cứu nạn song phương hoặc đa phương về tìm kiếm - cứu nạn hàng không. Điều 23. Khi nhận được thông báo của Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn, đơn vị tìm kiếm - cứu nạn phải triển khai hành động tìm kiếm - cứu nạn đúng như nội dung thông báo nhận được; giữ liên lạc, báo cáo lực lượng, trang thiết bị huy động tham gia tìm kiếm - cứu nạn; báo cáo thường xuyên diễn biến tìm kiếm - cứu nạn về Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn. Điều 24. Người chỉ huy đơn vị tìm kiếm - cứu nạn tại hiện trường tổ chức cấp cứu người sống sót; cứu tài sản của người bị nạn; không được gây cháy nổ; sau khi hoàn tất việc cứu nạn, các Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn, các lực lượng khẩn nguy sân bay, các đội tìm kiếm - cứu nạn phải bảo vệ hiện trường, cung cấp đầy đủ thông tin để chuẩn bị cho công tác điều tra tai nạn. Điều 25. Người chỉ huy tầu bay đang bay phát hiện thấy tầu bay khác hay tầu biển đang ở trong tình trạng khẩn nguy phải thông báo ngay cho cơ quan kiểm soát không lưu đang cung cấp dịch vụ không lưu biết. Nếu điều kiện cho phép, phải tiếp tục quan sát tầu bay, tầu biển lâm nạn, xác định vị trí tầu bay, tầu biển lâm nạn để trợ giúp cho việc tìm kiếm - cứu nạn tới khi không thể kéo dài thêm hoặc không cần thiết nữa và theo yêu cầu hướng dẫn hành động của cơ quan kiểm soát không lưu và Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn. Điều 26. Khi thấy tầu bay, tầu biển lâm nạn, người chỉ huy tầu bay phải báo cáo Cơ quan kiểm soát không lưu hoặc Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn mọi thông tin liên quan đến tai nạn, cụ thể như sau: Điều 27. Tầu bay đầu tiên bay đến khu vực hiện trường tai nạn mà không phải là tầu bay tìm kiếm - cứu nạn có trách nhiệm hướng dẫn các tầu bay khác cho tới khi tầu bay tìm kiếm - cứu nạn đến. Nếu không đủ phương tiện thông tin liên lạc thì có thể thoả thuận chuyển giao cho tầu bay khác để giữ liên lạc với tầu bay đang bay, với Cơ quan kiểm soát không lưu, với Trung tâm hiệp đồng tìm kiếm - cứu nạn. Điều 28. Khi cần thiết, tầu bay đang bay tại khu vực hiện trường tai nạn hướng dẫn tầu bay cứu nạn bay đến khu vực hiện trường phải thiết lập liên lạc bằng sóng vô tuyến hoặc bằng tín hiệu thích hợp trong Phụ lục của Quy chế này. Nếu người sống sót, tầu bay, tầu biển lâm nạn không có phương tiện liên lạc thì nếu có thể được, tầu bay phải thả thiết bị liên lạc, tín hiệu xuống hiện trường và hướng dẫn sử dụng để thiết lập liên lạc giữa hiện trường và tầu bay đang bay trên khu vực hiện trường tai nạn. Điều 29. Khi nhận được tín hiệu, điện văn thông báo khẩn nguy trên sóng vô tuyến, điện thoại hay bất cứ phương tiện liên lạc nào khác, người chỉ huy tầu bay có nhiệm vụ: Điều 30. Việc sử dụng tín hiệu quy định tại Phụ lục của Quy chế này phải rõ ràng, không được nhầm lẫn với tín hiệu khác. Khi nhận được tín hiệu tại nơi xảy ra tai nạn, tầu bay đang bay, tầu bay tìm kiếm - cứu nạn phải thực hiện đúng yêu cầu quy định tại Phụ lục. Điều 31.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.