Quyết định · Bộ Giao thông vận tải
Quyết định 10/2004/QĐ-BGTVT
Ban hành "Quy chế công tác Không báo hàng không dân dụng Việt Nam"
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 25/06/2004
- Ngày có hiệu lực
- 26/05/2007
- Hết hiệu lực
- 26/05/2007
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
Hướng dẫn thi hành (3)
- 267/2003/QĐ-TTg — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hàng không Việt Nam (19/12/2003)
- 34/2003/NĐ-CP — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải (04/04/2003)
- Không số — Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam (20/04/1995)
Bố cục (65 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế công tác Không báo hàng không dân dụng Việt Nam". Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây trái với Quyết định này đều bị bãi bỏ. Điều 3. Các Ông (Bà) Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng các Vụ thuộc Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Điều 2. Trong Quy chế này, các chữ viết tắt dưới đây được hiểu như sau: Điều 3. Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: Điều 4. Điều 5. Các tin tức hàng không được thu thập từ các nguồn sau: Điều 6. Các loại tin tức hàng không bao gồm: Điều 7. Tính chính xác và thời gian cần thiết của tin tức được quy định cụ thể như sau: Chương II — TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN Điều 8. Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm: Điều 9. Trung tâm Không báo hàng không có trách nhiệm: Điều 10. Cơ quan không báo tại các cảng hàng không quốc tế có trách nhiệm: Điều 11. Cơ quan không báo tại cảng hàng không địa phương có trách nhiệm: Điều 12. Tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ không báo có trách nhiệm: Điều 13. Chương III — CÔNG TÁC NOTAM Điều 14. Trung tâm Không báo hàng không có trách nhiệm phát hành các tin tức hàng không dạng điện văn NOTAM tới các cơ quan không báo nước ngoài theo thỏa thuận, các cơ quan không báo tại các Cảng hàng không quốc tế và các Cảng hàng không địa phương, các cơ quan không lưu thuộc các Trung tâm Quản lý bay khu vực, bộ phận khai thác điều hành bay của các hãng hàng không Việt Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan khác nếu có nhu cầu. Điều 15. Điện văn NOTAM phải được phát hành trong những trường hợp sau đây: Điều 16. Khi phát hành tập tu chỉnh hoặc tập bổ sung theo phương thức AIRAC, phải phát hành một NOTAM nhắc lại nêu tóm tắt nội dung, ngày có hiệu lực và số tu chỉnh hoặc số bổ sung theo chu kỳ AIRAC đó. NOTAM này sẽ bắt đầu có hiệu lực cùng với thời gian bắt đầu có hiệu lực của tập bổ sung hoặc tập tu chỉnh đó và sẽ có hiệu lực cho đến khi phát hành bản tổng kết và tóm tắt NOTAM còn hiệu lực tháng tiếp theo. Điều 17. NOTAM phải được phát hành theo mẫu tiêu chuẩn của ICAO được nêu tại Chương 5 Phụ ước 15 (Annex 15-ICAO), cụ thể như sau: Điều 18. Các cơ quan, đơn vị có tin tức phù hợp phát hành điện văn NOTAM phải thông báo cho cơ quan không báo trong thời gian quy định sau đây: Điều 19. Các cơ quan, đơn vị có tin tức phù hợp phát hành điện văn NOTAM phải điền vào Mẫu "Đề nghị phát hành NOTAM" tại Phụ lục 1 của Quy chế này và gửi tới cơ quan không báo phù hợp kèm theo văn bản liên quan đến nội dung phát hành NOTAM. Điều 20. Việc xử lý tin tức thành điện văn NOTAM được thực hiện theo trình tự sau: Điều 21. Trung tâm Không báo hàng không phải trình Cục Hàng không Việt Nam kiểm tra phê duyệt trước khi phát hành các NOTAM có nội dung sau đây: Điều 22. Thời hạn phát hành NOTAM được quy định như sau: Điều 23. Điện văn NOTAM đã phát hành phải được lưu giữ đầy đủ và được sắp xếp theo trình tự thời gian đến kỳ tổng kết NOTAM tháng tới. Điều 24. Khi nhận được các NOTAM nước ngoài, Trung tâm Không báo hàng không có trách nhiệm: Điều 25. Khi nhận được các NOTAM nước ngoài, các cơ quan không báo tại cảng hàng không có trách nhiệm: Điều 26. Đối với danh mục NOTAM còn hiệu lực trong nước: Điều 27. Đối với bản danh mục NOTAM còn hiệu lực nước ngoài Điều 28. Đối với bản tóm tắt nội dung NOTAM còn hiệu lực hàng tháng trong nước: Điều 29. Đối với Bản tóm tắt nội dung các NOTAM nước ngoài hàng tháng còn hiệu lực: khi nhận được bảng tóm tắt nội dung các NOTAM nước ngoài hàng tháng còn hiệu lực, Trung tâm Không báo hàng không phải đối chiếu các NOTAM được liệt kê với danh mục các NOTAM nhận được qua mạng viễn thông cố định hàng không AFTN và có các biện pháp xử lý thích hợp nếu cần thiết. Điều 30. Bản tóm tắt nội dung các NOTAM còn hiệu lực hàng tháng phải được lưu trữ ít nhất là 06 (sáu) tháng. Chương IV — TẬP THÔNG BÁO HÀNG KHÔNG Điều 31. Trung tâm Không báo hàng không có trách nhiệm biên soạn, cung cấp, trao đổi AIP, các tập tu chỉnh và bổ sung thông thường hoặc theo chu kỳ AIRAC phù hợp với các thỏa thuận được ký kết với cơ quan không báo của các quốc gia liên quan. Điều 32. Tập AIP Việt Nam phải được in bằng hai thứ tiếng Anh - Việt và được chia thành 03 phần: tổng quát (GEN), đường bay (ENR), sân bay (AD). Các tiêu chuẩn chung của tập AIP Việt Nam phải được áp dụng theo các tiêu chuẩn của ICAO được nêu tại Phụ ước 15 về Công tác không báo (Annex 15-ICAO), cụ thể như sau: Điều 33. Đối với tập tu chỉnh do Cục Hàng không Việt Nam phát hành: Điều 34. Các bộ phận không báo, các cơ quan, đơn vị liên quan khi nhận được tập tu chỉnh trong nước phải thực hiện những việc sau đây: Điều 35. Khi nhận được tập tu chỉnh nước ngoài, cơ quan không báo có tập AIP nước ngoài có trách nhiệm: Điều 36. Đối với tập bổ sung do Cục Hàng không Việt Nam phát hành: Điều 37. Các cơ quan không báo và các cơ quan, đơn vị liên quan khi nhận được tập bổ sung trong nước, phải thực hiện những việc sau đây: Điều 38. Khi nhận được tập bổ sung do các nước liên quan phát hành, cơ quan không báo có trách nhiệm: Điều 39. Tin tức phải được phát hành theo chu kỳ AIRAC trong trường hợp thiết lập, hủy bỏ hoặc có những thay đổi quan trọng theo kế hoạch, kể cả khai thác thử nghiệm, đối với: Điều 40. Việc phát hành tin tức theo chu kỳ AIRAC được quy định như sau: Điều 41. Khi các cơ quan, đơn vị liên quan có kế hoạch thay đổi những nội dung quy định tại Điều 39 của Quy chế này, phải gửi cho cơ quan không báo thích hợp các văn bản liên quan đến nội dung phát hành tin tức có chữ ký của người có thẩm quyền trước ngày có hiệu lực của chu kỳ AIRAC đó tối thiểu là 56 ngày. Chương V — THÔNG TRI HÀNG KHÔNG Điều 42. Trung tâm Không báo hàng không có trách nhiệm biên soạn, cung cấp, trao đổi AIC phù hợp với các thỏa thuận được ký kết với cơ quan không báo của các quốc gia liên quan. Điều 43. Những tin tức hàng không không phù hợp công bố trong tập AIP và không phù hợp để phát hành một NOTAM thì phát hành Thông tri hàng không, bao gồm: Điều 44. AIC Việt Nam phải áp dụng theo các tiêu chuẩn của ICAO được nêu tại Phụ ước 15 về Công tác không báo (Annex 15-ICAO), cụ thể như sau: Điều 45. Các cơ quan, đơn vị có tin tức quy định tại Điều 43 của Quy chế này phải thông báo cho cơ quan không báo phù hợp kèm theo văn bản liên quan đến nội dung phát hành tin tức (có chữ ký của người có thẩm quyền). Điều 46. Việc xử lý AIC do nước ngoài phát hành được quy định như sau: Chương VI — BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ HÀNG KHÔNG Điều 47. Trung tâm Không báo hàng không có trách nhiệm thiết kế, xây dựng các loại bản đồ, sơ đồ hàng không để cung cấp cho các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động bay trên lãnh thổ Việt Nam và vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý, điều hành. Điều 48. Danh mục các loại bản đồ, sơ đồ hàng không bao gồm: Điều 49. Việc thiết kế, xây dựng các loại bản đồ, sơ đồ hàng không được quy định như sau: Chương VII — CÔNG TÁC KHÔNG BÁO TẠI CẢNG HÀNG KHÔNG Điều 50. Cơ quan không báo tại các Cảng hàng không có trách nhiệm cung cấp đầy đủ mọi thông tin không báo liên quan đến chuyến bay cho tổ lái để lập kế hoạch bay. Điều 51. Bản PIB phải được soạn thảo dựa trên cơ sở chặng đầu tiên của lộ trình bay, từ lúc cất cánh đến điểm hạ cánh đầu tiên theo mẫu tại Phụ lục 3 của Quy chế này. Điều 52. Cơ quan không báo tại cảng hàng không khi soạn xong bản PIB phải theo dõi những NOTAM mới nhận được từ mạng liên lạc AFTN để cập nhật ngay vào bản PIB nếu những NOTAM này có liên quan trực tiếp đến chuyến bay. Trong trường hợp tổ lái đã nhận bản PIB, nếu có các thông tin khai thác quan trọng liên quan đến chuyến bay thì phải thông báo ngay cho tổ lái nội dung của NOTAM đó thông qua TWR, ACC hoặc đại diện các Hãng hàng không liên quan. Điều 53. Bản PIB phải được làm thành 02 bản: 01 (một) bản giao cho tổ lái và 01(một) bản để lưu. Khi cung cấp bản PIB, cơ quan không báo tại cảng hàng không phải yêu cầu tổ lái ký xác nhận và ghi rõ họ tên vào sổ lưu bản PIB. Sổ lưu bản PIB phải ghi đầy đủ số hiệu chuyến bay, sân bay khởi hành, sân bay đến, sân bay dự bị. Bản PIB lưu lại bộ phận phải được lưu vào cặp file. Điều 54. Ngoài bản PIB là phần chính cung cấp cho người lái, cơ quan không báo tại cảng hàng không phải cung cấp các tài liệu hàng không khác để người lái tham khảo khi cần thiết, bao gồm: Điều 55. Tổ lái có trách nhiệm thông báo về tình trạng không bình thường của các trang thiết bị, các tin tức có ảnh hưởng đến hoạt động bay cho các cơ quan không lưu trên các tần số không lưu thích hợp. Các cơ quan không lưu nhận được thông báo phải chuyển tin tức tới cơ quan không báo liên quan để tiến hành các hành động phù hợp. Điều 56. Tổ lái có trách nhiệm báo cáo sau khi bay. Nếu tổ lái muốn báo cáo sau khi bay bằng văn bản, cơ quan không báo tại cảng hàng không phải hướng dẫn cho họ điền vào Bản thông báo sau khi bay. Mẫu Bản thông báo sau khi bay theo Phụ lục 4 của Quy chế này. Điều 57. Khi nhận được thông báo sau khi bay của tổ lái hay nhà khai thác bằng văn bản hoặc điện thoại về các tin tức chưa được phổ biến bằng điện văn NOTAM, các tập tu chỉnh, AIC hoặc tập AIP mà những tin tức này có thể ảnh hưởng đến hoạt động bay thì cơ quan không báo tại cảng hàng không phải thông báo ngay cho các cơ quan, đơn vị liên quan để kiểm tra độ chính xác của các thông tin đó. Trong trường hợp thông báo sau khi bay của tổ lái hay nhà khai thác hàng không được xác nhận là chính xác thì cơ quan không báo tại cảng hàng không phải thông báo ngay cho các cơ quan không lưu có liên quan để cảnh báo hoặc cảnh báo trực tiếp cho các tổ lái khác khi họ vào lập kế hoạch bay đồng thời làm báo cáo gửi cho Giám đốc Trung tâm khai thác khu bay kèm theo bản thông báo sau khi bay của tổ lái liên quan. Nếu tin tức phù hợp phát hành NOTAM thì soạn dự thảo NOTAM. Nếu tin tức không phù hợp phát hành NOTAM thì chuyển tin tức đó tới Trung tâm Không báo hàng không để phát hành những ấn phẩm không báo phù hợp. Chương VIII — ĐẢM BẢO KỸ THUẬT VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC Điều 58. Các phương tiện dùng để nhận và gửi các tin tức không báo bao gồm: Điều 59. Các cơ quan không báo phải được trang bị các phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, hạ tầng cơ sở và các tài liệu nghiệp vụ tối thiểu như sau: Điều 60. Chương IX — TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 61. Các cơ quan không báo phải báo cáo Cục Hàng không Việt Nam theo quy định sau: Điều 62.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.