Quyết định · UBND
Quyết định 1174/2008/QĐ-UBND
Ban hành Quy định phân cấp quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 07/07/2008
- Ngày có hiệu lực
- 17/07/2008
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
Hướng dẫn thi hành (3)
- 22/2005/NĐ-CP — Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (01/03/2005)
- 21/2004/PL-UBTVQH11 — Tín ngưỡng, tôn giáo (18/06/2004)
- 11/2003/QH11 — Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (26/11/2003)
Bố cục (30 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định phân cấp quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Điều 2. Quyết định có hiệu lực thi hành sau mười (10) ngày, kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 2892/2005/QĐ-UBND ngày 10 tháng 11 năm 2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc Ban hành Quy định phân cấp nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Nội vụ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị và thủ trưởng các sở, ban, ngành, tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ các tôn giáo chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh Điều 2. Việc quản lý các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải đảm bảo nguyên tắc: Điều 3. Công tác quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị ở địa phương. Cấp nào, ngành nào quyết định giải quyết các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo thì cấp, ngành đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về quyết định của mình. Chương II — NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CÁC CẤP TRONG QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Điều 4. Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi toàn tỉnh, cụ thể như sau: Điều 5. Ủy ban nhân dân huyện, thị xã có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể như sau: Điều 6. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi tắt là Ủy ban nhân dân xã) trong quản lý hoạt động tôn giáo như sau: Chương III — NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁC SỞ, BAN, NGÀNH CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC QUẢN LÝ Điều 7. Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo Điều 8. Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Điều 9. Công an tỉnh có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Điều 10. Sở Tài nguyên và Môi trường có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Điều 11. Sở Xây dựng có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Chương IV — ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC, CÁC ĐOÀN THỂ VÀ HỘI QUẦN CHÚNG CÁC CẤP, CƠ QUAN THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN PHỐI HỢP THAM GIA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Điều 12. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm như sau: Điều 13. Các tổ chức đoàn thể, hội quần chúng có nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục đoàn viên, hội viên có đạo thực hiện đúng pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và các quy định của địa phương, quyền và nghĩa vụ của người công dân. Tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nếp sống văn hoá, giúp nhau thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng, hạn chế và đi đến chấm dứt các tiêu cực, chống các tệ nạn xã hội, tạo sức mạnh tổng hợp ở cơ sở, thực hiện có hiệu quả các giải pháp chống truyền đạo trái phép trên địa bàn tỉnh. Điều 14. Các cơ quan thông tin đại chúng: Đài Phát thanh - Truyền hình, Báo Cao Bằng, các Đội thông tin tuyên truyền lưu động, các Đài truyền thanh, truyền hình huyện, thị thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức, giáo dục trong nhân dân các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; biểu dương những gương người tốt, việc tốt trong tín đồ, chức sắc các tôn giáo; đấu tranh với những hành vi mê tín dị đoan, lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm trái với pháp luật và xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Chương V — QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC TÍN ĐỒ, Điều 15. Đối với đạo Công giáo Điều 16. Đối với đạo Phật Điều 17. Đối với các điểm nhóm đạo Tin lành Điều 18. Ngoài những quyền và nghĩa vụ của công dân, về lĩnh vực tôn giáo, tín đồ các tôn giáo có quyền và nghĩa vụ sau: Điều 19. Chức sắc tôn giáo được hoạt động tôn giáo theo đúng pháp luật Nhà nước trong phạm vi mình phụ trách và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động tôn giáo trong phạm vi trách nhiệm đó. Chức sắc, nhà tu hành tôn giáo gắn bó với dân tộc, tuân thủ luật pháp được tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt động xã hội với tư cách công dân và được hưởng các quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội của công dân đồng thời có trách nhiệm tuyên truyền, vận động tín đồ chấp hành tốt chính sách Đảng, pháp luật của Nhà nước. Điều 20. Hàng năm, trước ngày 15 tháng 10 người phụ trách tôn giáo ở các cơ sở thờ tự có trách nhiệm đăng ký chương trình hoạt động tôn giáo sẽ diễn ra vào năm sau tại cơ sở với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi diễn ra các hoạt động đó. Nội dung văn bản đăng ký cần nêu rõ người tổ chức chủ trì hoạt động, nội dung hoạt động, dự kiến thành phần, nội dung, địa điểm nơi diễn ra hoạt động đó. Khi được phê duyệt phải có trách nhiệm tổ chức hoạt động tôn giáo theo đúng quy định đăng ký và chịu trách nhiệm trong khi tổ chức các hoạt động đó. Trường hợp đột xuất cần thay đổi nội dung đã đăng ký, phải báo cáo với Ủy ban nhân dân xã, phường ít nhất 30 ngày trước dự định tổ chức. Điều 21. Các hành vi truyền bá giáo lý của những người không thuộc tổ chức tôn giáo hợp pháp (tổ chức tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận) hoặc những người thuộc tổ chức tôn giáo hợp pháp (tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận) nhưng truyền bá giáo lý ngoài phạm vi quy định không xin phép chính quyền, hoặc dùng các hành vi lừa bịp mua chuộc, dụ dỗ, ép buộc hoặc các hình thức khác để lôi kéo người theo đạo trái với tính tự nguyện theo hoặc không theo tôn giáo của công dân đều vi phạm pháp luật và bị xử lý tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm. Điều 22. Nhận viện trợ từ thiện có liên quan đến tôn giáo phải theo quy định của Nhà nước và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Các hoạt động từ thiện của tổ chức hoặc cá nhân tôn giáo phải báo cáo xin phép Ủy ban nhân dân huyện, thị xã; nếu hoạt động từ thiện liên quan đến nhiều huyện thì báo cáo xin phép Ủy ban nhân dân tỉnh. Chương VI — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN Điều 23. Trong việc thực hiện Quy định này những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo cùng cấp có trách nhiệm hướng dẫn và tiếp nhận hồ sơ, phối hợp với các cơ quan liên quan thẩm định, trình Ủy ban nhân dân và trả lời tổ chức, cá nhân tôn giáo. Điều 24. Ủy ban nhân dân các huyện, thị, xã, phường, thị trấn, các sở, ban, ngành có liên quan phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ báo cáo theo tháng, quý, 6 tháng, 1 năm hoặc báo cáo đột xuất về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương. Điều 25. Tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc, nhà tu hành và các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thi hành quy định này và các quy định pháp luật khác có liên quan. Điều 26. Thủ trưởng các sở, ban, ngành có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy định này. Điều 27. Sở Nội vụ có trách nhiệm theo dõi, giám sát, kiểm tra, đôn đốc thực hiện quy định này. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, các cơ quan, đơn vị phản ánh, báo cáo về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua Sở Nội vụ) để nghiên cứu, giải quyết.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.