Quyết định · UBND
Quyết định 1291/2008/QĐ-UBND
Về việc ban hành quy chế tiếp nhận và quản lý đối tượng tại trung tâm điều dưỡng người có công và bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Kạn
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 18/07/2008
- Ngày có hiệu lực
- 28/07/2008
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
- 11/2019/QĐ-UBND — Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn ban hành (16/07/2019)
Hướng dẫn thi hành (6)
- 67/2007/NĐ-CP — Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội (13/04/2007)
- 54/2006/NĐ-CP — Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (26/05/2006)
- 26/2005/PL-UBTVQH11 — Ưu đãi người có công với cách mạng (29/06/2005)
- 25/2001/NĐ-CP — Ban hành Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội (31/05/2001)
- 23/2000/PL-UBTVQH10 — Người cao tuổi (28/04/2000)
- 06/1998/PL-UBTVQH10 — Về người tàn tật (30/07/1998)
Bố cục (26 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế tiếp nhận, quản lý đối tượng tại Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Kạn. Điều 2. Quyết định này thay thế Quyết định số: 2077/2006/QĐ-UBND ngày 13 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn và có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành. Điều 3. Các ông, bà: Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các sở, ban, ngành liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã và Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Kạn chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Điều 1. Quy chế này quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng tại Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Kạn. Điều 2. Đối tượng được tiếp nhận điều dưỡng và nuôi dưỡng tại Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh bao gồm: Điều 3. Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tiếp nhận đối tượng người có công của tỉnh theo kế hoạch điều dưỡng hàng năm của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội. Điều 4. Hồ sơ tiếp nhận đối tượng người có công vào điều dưỡng tại Trung tâm bao gồm: Điều 5. Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội có nhiệm vụ: Điều 6. Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tổ chức tiếp nhận đối tượng xã hội khi có quyết định của Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội. Điều 7. Hồ sơ tiếp nhận đối tượng xã hội vào Trung tâm bao gồm: Điều 8. Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện, thị xã tiếp nhận hồ sơ đối tượng từ cấp xã, tổ chức thẩm tra, tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện, thị xã ra văn bản đề nghị đưa đối tượng vào Trung tâm và chuyển hồ sơ về Sở Lao động-Thương binh và Xã hội (Phòng Chính sách xã hội và Phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em). Điều 9. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội (Phòng Chính sách xã hội đối với đối tượng người già và Phòng Bảo vệ chăm sóc trẻ em đối với trẻ em) nhận hồ sơ do Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã chuyển đến, kiểm tra xem xét để trình lãnh đạo Sở quyết định tiếp nhận đối tượng vào Trung tâm. Điều 10. Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội phải tiến hành lập hồ sơ cá nhân đối với từng đối tượng bao gồm: Điều 11. Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội có trách nhiệm quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng, phục hồi, nâng cao sức khỏe của các đối tượng; hướng dẫn các đối tượng xã hội lao động phù hợp để có thu nhập nâng cao đời sống. Đối với trẻ cần tổ chức giáo dục, hướng nghiệp và tổ chức các hoạt động văn hóa, tinh thần phù hợp năng khiếu lứa tuổi giúp cho trẻ phát triển toàn diện. Điều 12. Trẻ em đang ở Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội đến tuổi trưởng thành thì được đưa trở về địa phương (nơi đối tượng sinh sống trước khi vào Trung tâm). Ủy ban nhân dân xã, gia đình có trách nhiệm tiếp nhận và tạo điều kiện giúp đỡ họ hòa nhập với cộng đồng. Điều 13. Trường hợp trẻ em có người nhận làm con nuôi phải đảm bảo các điều kiện và được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật hiện hành. Điều 14. Các đối tượng xã hội sống tại Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội nếu có người thân thích nhận về nuôi dưỡng phải có đơn đề nghị và có xác nhận của Ủy ban nhân dân nơi người thân đó cư trú. Trường hợp đối tượng tự nuôi sống được bản thân có đơn xin về cộng đồng thì Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội ra quyết định cho đối tượng ra khỏi Trung tâm. Điều 15. Trường hợp trẻ em mồ côi sống ở Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội, khi đã sang tuổi 16 mà vẫn tiếp tục đi học văn hóa, học nghề thì tiếp tục hưởng chế độ trợ cấp đến năm 18 tuổi. Điều 16. Trong trường hợp đối tượng xã hội đang nuôi dưỡng tại Trung tâm chết, Trung tâm có trách nhiệm tổ chức mai táng theo quy định. Điều 17. Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về Sở Lao động-Thương binh và Xã hội. Điều 18. Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động nuôi dưỡng, quản lý đối tượng tại Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội được xem xét khen thưởng theo quy định chung của pháp luật. Điều 19. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của quy chế này, tùy thuộc theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 20. Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội có trách nhiệm phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã tổ chức thực hiện quy chế này./. Điều 1. Chuyển ông (bà) ............................................................................................ Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Điều 3. Các ông (bà) Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính, Trưởng phòng Quản lý đối tượng, Trưởng phòng y vụ, Trưởng phòng bảo vệ, Ủy ban nhân xã (phường, thị trấn) và ông (bà) có tên nêu tại Điều 1 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.