Quyết định · UB

Quyết định 137/2000/QĐ-UB

Về việc chuẩn y Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ Thái Phiên

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
27/12/2000
Ngày có hiệu lực
11/01/2001
Hết hiệu lực
14/09/2005
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Hướng dẫn thi hành (3)

Bố cục (25 điều)

Điều 1. Chuẩn y Quy chế tổ chức và hoạt động của Câu lạc bộ Thái Phiên.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 3190/QĐ-UB ngày 30 tháng 8 năm 1997 của UBND thành phô" Đà Nang.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND thành phố, Trưởng ban Ban Tổ chức chính quyền, Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Giám đốc Sở Tài chính - Vật giá, Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin, Giám đốc Sở Thể dục - Thể thao, Thủ trưởng các cơ quan có liên quan và Câu lạc bộ Thái Phiên căn cứ Quyết định thi hành.
Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Câu lạc bộ Thái Phiên (Sau đây gọi tắt là Câu lạc bộ) là một tổ chức tự nguyện của các cán bộ của Đảng và Nhà nước về hưu thường trú tại thành phố Đà Nẵng, được thành lập theo Thông báo số 11/TB-UB ngày 28 tháng 4 năm 1997 của Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng và Quyết định số 1554/QĐ-UB ngày 04 tháng 6 năm 1997 của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật và Quy chế này.
  Điều 2. Câu lạc bộ là thành viên của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Đà Nẵng.
Chương II — TÍNH CHẤT, NHIỆM VỤ CỦA CÂU LẠC BỘ THÁI PHIÊN
  Điều 3. Câu lạc bộ hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần, tình cảm, vui chơi giải trí, giữ gìn sức khỏe tuổi già, vừa phát huy truyền thông, kinh nghiệm của hội viên vào sự phát triển kinh tế - văn hóa xã hội của thành phố Đà Nẵng.
  Điều 4. Nhiệm vụ của Câu lạc bộ :
Chương III — HỘI VIÊN
  Điều 5.
  Điều 6. Quyền lợi của hội viên :
  Điều 7. Nghĩa vụ của hội viên :
  Điều 8. Khen thưởng và kỷ luật hội viên :
Chương IV — TỔ CHỨC CỦA CÂU LẠC BỘ THÁI PHIÊN
  Điều 9.
  Điều 10. Nhiệm vụ của Ban Chủ nhiệm :
  Điều 11.
  Điều 12. Đại hội đại biểu Câu lạc bộ được tổ chức năm năm một lần. Đại hội đại biểu Câu lạc bộ có nhiệm vụ :
  Điều 13. Các tiểu ban :
  Điều 14. Tổ hội viên :
  Điều 15. Văn phòng Câu lạc bộ do một thành viên trong bộ phận Thường trực Ban Chủ nhiệm trực tiếp phụ trách. Văn phòng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của bộ phận Thường trực Ban Chủ nhiệm, giúp Ban Chủ nhiệm quản lý Hội viên, tài sản, tài chính và phục vụ các hoạt động của Câu lạc bộ. Ban Chủ nhiệm có thể hợp đồng một hoặc hai cán bộ giúp việc, sau khi được sự thống nhất của Ban Tổ chức chính quyền thành phố.
Chương V — MỐI QUAN HỆ CÔNG TÁC VÀ CHẾ ĐỘ THÔNG TIN BÁO CÁO
  Điều 16. Đối với Ban Thường vụ Thành ủy, UBND và ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố :
  Điều 17. Đối với các Sở, Ban, Ngành thành phố, Câu lạc bộ:
  Điều 18. Đối với các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân các quận, huyện thuộc thành phố trong phạm vi, quyền hạn của mình tạo diều kiện giúp đỡ, hỗ trợ cho Câu lạc bộ hoạt động có hiệu quả.
  Điều 19. Hàng quý, sáu tháng, cuối năm, Câu lạc bộ báo cáo tình hình hoạt động của đơn vị cho Ban Thường vụ Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phồ và đồng gởi đến Ban Dân vận, Ban Tuyên giáo, Ban Tổ chức Thành ủy, Ban Tể chức Chính quyền và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố.
  Điều 20. Kinh phí hoạt động của Câu lạc bộ từ các nguồn thu :
  Điều 21.
Chương VII — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
  Điều 22. Quy chế về tổ chức và hoạt động Câu lạc bộ có hiệu lực sau khi có Quyết định chuẩn y của UBND thành phố. Khi cần sửa đổi, bổ sung Quy chế thì phải được Đại hội đại biểu Câu lạc bộ thông qua. Trong trường hợp đặc biệt, thì Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ phải tham khảo ý kiến của các Tổ trưởng các tổ hội viên và làm việc với các ngành có liên quan tham gia ý kiến để trình UBND thành phố xem xét chuẩn y.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.