Thông tư · Bộ Xây dựng
Thông tư 15/2014/TT-BXD
Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 15/09/2014
- Ngày có hiệu lực
- 01/11/2014
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
Được hướng dẫn bởi (3)
- 129/2017/QĐ-UBND — Ban hành Quy định quản lý trong sản xuất, kinh doanh về vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (01/12/2017)
- 03/2017/QĐ-UBND — Ban hành Quy định về quản lý vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (20/01/2017)
- 35/2014/QĐ-UBND — Ban hành Quy định về quản lý vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng (07/11/2014)
Thay thế / bãi bỏ (1)
- 11/2011/TT-BXD — Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng (30/08/2011)
Hướng dẫn thi hành (3)
- 127/2007/NĐ-CP — Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (01/08/2007)
- 62/2013/NĐ-CP — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng (25/06/2013)
- 127/2007/NĐ-CP — Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (01/08/2007)
Quy chuẩn kỹ thuật ban hành kèm theo
- QCVN 16:2014/BXD — Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 16:2014/BXD về Sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng
Bố cục (3 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về "Sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng", mã số QCVN 16:2014/BXD Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/10/2014 và thay thế Thông tư số 11/2011/TT-BXD ngày 30/8/2011 của Bộ Xây dựng ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Sản phẩm, hàng hóa vật liệu xây dựng. Điều 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.