Văn bản

Văn bản 23-NHNN/QĐ

Ban hành thể lệ tín dụng trung hạn, dài hạn đối với các tổ chức kinh tế

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
06/03/1991
Ngày có hiệu lực
06/03/1991
Hết hiệu lực
21/12/1995
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (2)

Bố cục (27 điều)

Điều 1. Nay ban hành kèm theo quyết định này: Thể lệ tín dụng trung hạn, dài hạn đối với các tổ chức kinh tế;
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định ban hành trước đây trái với quyết định này đều hết hiệu lực thi hành.
Điều 3. Các đồng chí Chánh văn phòng, Chánh thanh tra, Vụ trưởng, Viện trưởng, Cục trưởng, các Tổng giám đốc hoặc Giám đốc Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, đặc khu thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định này.
Điều 1. Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển (sau gọi tắt là tổ chức tín dụng - TCTD) cho các xí nghiệp, tổ chức kinh tế quốc doanh, tập thể, tư doanh (sau đây gọi tắt là tổ chức kinh tế - TCKT) vay vốn trung hạn, dài hạn để xây dựng mới , cải tạo, mở rộng, khôi phục, thay thế tài sản cố định; cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất (sau đây gọi tắt là công trình) trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo phương hướng, mục tiêu kế hoạch, chính sách và luật pháp của Nhà nước.
Điều 2. Nguồn vốn để cho vay trung hạn và dài hạn.
Điều 3. Tín dụng trung hạn và dài hạn được thực hiện theo nguyên tắc:
Điều 4. Đối tượng cho vay là công trình, hạng mục công trình hoặc dự án đầu tư, bao gồm đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, khôi phục, thay thế tài sản cố đinh; cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tính toán được hiệu quả kinh tế trực tiếp, có luận chứng kinh tế kỹ thuật hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật và dự toán được duyệt.
Điều 5. Tổ chức kinh tế vay vốn TCTD phải đảm bảo điều kiện:
Điều 6. Tổ chức kinh tế quốc doanh được lựa chọn TCTD trên địa bàn (tỉnh, thành phố) để vay vốn tín dụng trung hạn hoặc dài hạn, nhưng chỉ được vay vốn tại TCTD; không có dư nợ loại tín dụng này tại TCTD khác.
Điều 7. Thời hạn cho vay trung hạn từ trên 1 năm đến 3 năm, cho vay dài hạn từ trên 3 năm đến 10 năm, kể từ khi TCKT nhận món vay đầu tiên đến khi trả hết nợ trên cơ sở TCTD có nguồn vốn tương ứng.
Điều 8. Lãi suất cho vay được thực hiện theo mức quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
Điều 9. TCTD không được cho một TCKT vay quá 10% vốn tự có và quỹ dự trữ. Tổng số vốn cho 10 TCKT vay nhiều nhất không quá 30% tổng số dư nợ cho vay của TCTD.
Điều 10. TCTD không được ưu đãi đối với những đối tượng đã quy định ở Điều 30 Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính về lãi suất tiền vay, tiền phạt; về những món vay có cùng mức vốn, thời hạn cho vay, hiệu quả kinh tế, tính rủi ro... như những tổ chức kinh tế khác.
Điều 11. Để được vay vốn, TCKT phải gửi đến TCTD phục vụ mình:
Điều 12. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ xin vay của TCKT, nếu TCTD chấp nhận cho vay thì làm quyết định cho vay, nếu không chấp nhận cho vay, phải báo cho TCKT biết.
Điều 13. Đối với những công trình được duyệt cho vay, TCTD phát tiền vay đầy đủ, kịp thời theo tiến độ xây dựng và mức vốn cho vay đã duyệt.
Điều 14. Căn cứ vào tính chất và quy mô của từng loại công trình, Tổng giám đốc Ngân hàng quốc doanh uỷ quyền cho Giám đốc chi nhánh thuộc quyền mình duyệt cho vay đối với một số loại công trình.
Điều 15. Tổ chức tín dụng phải lưu giữ hồ sơ tín dụng đã được duyệt :
Điều 16. Căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh; hiệu quả kinh tế của công trình và các nguồn thu khác của TCKT, TCTD cùng đơn vị vay tính toán xác định số tiền trả nợ hàng năm và từng kỳ, đảm bảo trả nợ TCTD trong thời hạn cho vay đã quy định.
Điều 17. Tổ chức kinh tế nhượng bán, thanh lý tài sản hình thành bằng vốn vay TCTD thì phải báo cho TCTD ít nhất là 30 ngày trước khi thực hiện và phải dùng số tiền thu được trả hết nợ và lãi vay, nếu không đủ, TCKTphải dùng nguồn thu khác hoặc xử lý tài sản thế chấp để trả nợ.
Điều 18. Khi bị giải thể, TCKT phải dùng số tiền thanh lý tài sản để trả hết nợ và lãi vay TCTD; nếu trả không đủ thì cơ quan ra quyết định giải thể phải chịu trách nhiệm giải quyết việc trả nợ theo pháp luật.
Điều 19. Kể từ ngày nhận món vay đầu tiên đến khi trả hết nợ, hàng năm, quý, TCKT phải gửi đến TCTD các tài liệu:
Điều 20. Trường hợp cho vay bằng ngoại tệ, các TCTD phải hạch toán nội bảng bằng Đồng Việt Nam theo tỷ giá lúc cho vay. Có thể thu nợ bằng ngoại tệ hoặc Đồng Việt Nam trên nguyên tắc bảo đảm TCTD thu đủ nợ gốc và lãi (bằng ngoại tệ cho vay)
Điều 21. Tổ chức tín dụng kiểm tra trong quá trình cho vay, sử dụng vốn vay, quản lý tài sản thế chấp (đối với trường hợp phải thế chấp tài sản) của TCKT. Tổ chức kinh tế vay vốn có trách nhiệm cung cấp các số liệu, tình hình và tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD trong hoạt động kiểm tra đối với công trình vay vốn.
Điều 22. Khi phát hiện thấy TCKT cung cấp thông tin sai lạc, không chính xác, không trung thực; vi phạm trong quá trình sử dụng vốn vay, tuỳ theo mức độ cụ thể, TCTD kiến nghị đơn vị khắc phục các vi phạm đó hoặc áp dụng các chế tài cần thiết như đình chỉ cho vay và thu hồi trước thời hạn số vốn đã cho vay và lãi vay... Trường hợp nghiêm trọng có thể đưa ra các cơ quan pháp luật.
Điều 23. TCTD thu hồi nợ và lãi vay trước hạn khi tài sản tài sản thế chấp nợ vay của TCKT không còn hoặc bị giảm so với số nợ TCTD (đối với tài sản thế chấpTCTD không cất giữ). Nếu tổ chức kinh tế không trả hết nợ và lãi vay thì khởi tố trước pháp luật.
Điều 24. Căn cứ vào các quy định của thể lệ này, các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện trong hệ thống của mình./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.