Quyết định
Quyết định 249/2000/QĐ-NHNN9
Về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 09/08/2000
- Ngày có hiệu lực
- 24/08/2000
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
- 18/2020/TT-NHNN — Bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành (30/12/2020)
Hướng dẫn thi hành (3)
- 71/1998/NĐ-CP — Ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (08/09/1998)
- 01/1997/QH10 — Ngân hàng Nhà nước (12/12/1997)
- 15-CP — Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ (02/03/1993)
Bố cục (39 điều)
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ và đào tạo, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố và Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Điều 1. Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của các đơn vị thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước nhằm phát huy quyền làm chủ của công chức, viên chức, góp phần xây dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, làm việc có năng suất chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước, ngăn chặn và chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà. Điều 2. Phát huy quyền dân chủ của công chức, viên chức gắn liền với việc đảm bảo sự lãnh đạo của Cấp uỷ Đảng các cấp chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chế độ thủ trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng. Điều 3. Dân chủ trong khuôn khổ của pháp luật; phát huy dân chủ, nhưng đồng thời kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ vi phạm nội quy, quy chế của đơn vị, quy định pháp luật và xâm phạm quyền tự do của công chức, viên chức, cản trở việc thi hành công vụ trong hoạt động Ngân hàng. Điều 4. Đơn vị thuộc hệ thống Ngân hàng Nhà nước quy định trong Quy chế này gồm Ngân hàng Trung ương, Học viện Ngân hàng, Văn phòng đại diện Ngân hàng Nhà nước tại TP.Hồ Chí Minh và Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Điều 5. Thủ trưởng đơn vị là người quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị theo chế độ Thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về toàn bộ hoạt động của đơn vị về việc thi hành nhiệm vụ công vụ của công chức, viên chức thuộc quyền quản lý theo quy định của pháp luật. Điều 6. Định kỳ họp giao ban, thủ trưởng đơn vị đánh giá thực hiện chương trình công tác trong thời gian qua, lắng nghe ý kiến đóng góp của công chức, viên chức và định ra kế hoạch chủ yếu cần phải triển khai trong thời gian tới. Điều 7. Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm quản lý công chức, viên chức thuộc đơn vị về các mặt tư tưởng, phẩm chất đạo đức, sử dụng, đào tạo, thực hiện chế độ chính sách nội quy, quy chế cơ quan để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có phẩm chất, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Điều 8. Thủ trưởng đơn vị phải lắng nghe ý kiến phản ánh, phê bình của công chức, viên chức và không được có hành vi trù dập đối với công chức, viên chức đã góp ý, phê bình mình. Khi công chức, viên chức đề nghị được gặp Thủ trưởng đơn vị thì Thủ trưởng đơn vị bố trí gặp và trao đổi các vấn đề liên quan. Điều 9. Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản đơn vị, tiết kiệm, chống lãng phí kinh phí được cấp, tuỳ theo nội dung tính chất của từng loại thông tin và đối tượng tiếp nhận thông tin thực hiện việc công khai về tài chính . Điều 10. Thủ trưởng đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa, những hành vi tham nhũng, hối lộ, nhận hối lộ, lãng phí, thiếu trách nhiệm gây thất thoát tài sản của đơn vị, Nhà nước, xử lý theo thẩm quyền và tạo điều kiện để cơ quan tổ chức có thẩm quyền xử lý những hành vi vi phạm Pháp lệnh chống tham nhũng, Pháp lệnh tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định của Nhà nước. Điều 11. Thủ trưởng đơn vị phối hợp với cấp uỷ, đoàn thể quần chúng tổ chức hội nghị công chức, viên chức đơn vị theo định kỳ năm 1 lần vào cuối năm hoặc bất thường. Điều 12. Điều 13. Công chức, viên chức phải thực hiện nghĩa vụ của công chức, viên chức và không được làm những việc đã bị cấm theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh cán bộ, công chức, các Nghị định của Chính phủ cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan và Quy chế công chức, viên chức Ngân hàng Nhà nước. Điều 14. Trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ ở nơi làm việc hay đi công tác công chức, viên chức phải phục tùng sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên; làm đúng chức trách phận sự công việc được giao. Điều 15. Công chức, viên chức phải thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm để không ngừng tiến bộ, thẳng thắn phê bình, đấu tranh để xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh, kể cả góp ý kiến phê bình Thủ trưởng đơn vị; khi được yêu cầu công chức, viên chức có trách nhiệm góp ý kiến vào việc xây dựng các văn bản, các đề án của đơn vị. Điều 16. Những việc sau đây phải công khai cho công chức, viên chức được biết: Điều 17. Thủ trưởng có trách nhiệm thông báo cho công chức,viên chức biết những vấn đề quy định tại điều 16 trên đây bằng một trong các hình thức sau đây: Điều 18. Những việc công chức, viên chức tham gia ý kiến trực tiếp, hoặc thông qua người đại diện trước khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hoặc Thủ trưởng đơn vị quyết định gồm: Điều 19. Hình thức lấy ý kiến. Điều 20. Khi Thủ trưởng đơn vị quyết định những vấn đề nêu tại điều 18 khác với ý kiến tham gia của đa số công chức, viên chức thì Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm thông báo, giải thích lại để công chức, viên chức biết. Điều 21. Công chức, viên chức có quyền kiểm tra, giám sát những việc sau: Điều 22. Việc kiểm tra, giám sát được thông qua: Điều 23. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Thủ trưởng đơn vị trực thuộc có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc công khai tại công sở để công chức, viên chức và công dân, tổ chức ngoài ngành Ngân hàng biết: Điều 24. Thủ trưởng đơn vị chỉ đạo và kiểm tra công chức, viên chức trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức được giao; kịp thời có những biện pháp xử lý thích hợp theo quy định của Nhà nước. Đối với công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, công cụ, thiếu trách nhiệm, gây phiền hà, tham nhũng trong việc giải quyết công việc của công dân, tổ chức. Điều 25. Khi công dân, tổ chức ngoài ngành Ngân hàng có yêu cầu, công chức, viên chức có trách nhiệm giải quyết các yêu cầu đó theo thẩm quyền. Những việc không thuộc thẩm quyền giải quyết, công chức, viên chức phải thông báo để công dân, tổ chức ngoài ngành biết, đồng thời phải báo cáo cụ thể cho Thủ trưởng đơn vị biết. Công chức, viên chức không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà trong việc giải quyết tiếp dân, tổ chức ngoài ngành. Điều 26. Công chức, viên chức không tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân, tổ chức ngoài ngành tại nhà riêng. Điều 27. Thủ trưởng đơn vị chỉ đạo việc bố trí nơi tiếp dân, thực hiện việc tiếp dân, có hòm thư góp ý. Hàng tuần người có trách nhiệm của đơn vị mở hòm thư, nghiên cứu ý kiến được gửi đến và báo cáo Thủ trưởng đơn vị. Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm nghiên cứu và đề ra những biện pháp giải quyết các ý kiến góp ý. Điều 28. Đối với những chương trình, dự án do đơn vị xây dựng hoặc tổ chức thực hiện có liên quan mật thiết đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương thì Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm thông báo để địa phương đó biết, nếu có ý kiến tham gia, Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm xem xét, trả lời, giải quyết các ý kiến tham gia góp ý. Điều 29. Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm phục tùng sự chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện các quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Điều 30. Thủ trưởng đơn vị được quyền tham gia đóng góp ý kiến, phê bình đối với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Điều 31. Đơn vị có trách nhiệm báo cáo tình hình công tác lên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước theo quy định; có những vấn đề nảy sinh vượt quá khả năng giải quyết thì phải báo cáo kịp thời với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước để xin ý kiến chỉ đạo; nội dung báo cáo lên cơ quan cấp trên phải khách quan, trung thực, kịp thời. Điều 32. Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra hoạt động của đơn vị cấp dưới và chịu trách nhiệm về những sai lầm, khuyết điểm của đơn vị cấp dưới nếu những sai lầm, khuyết điểm đó có nguyên nhân từ sự chỉ đạo, hướng dẫn của Thủ trưởng đơn vị. Điều 33. Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm nghiên cứu, giải quyết kịp thời các yêu cầu, kiến nghị của đơn vị cấp dưới. Điều 34. Phải tham khảo ý kiến của đơn vị cấp dưới trong việc xây dựng chế độ, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Điều 35. Việc giải quyết cấp, bổ sung kinh phí, biên chế cho đơn vị cấp dưới phải kịp thời, phù hợp chức năng, nhiệm vụ được giao và theo đúng quy định của Nhà nước. Điều 36. Thủ trưởng đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm, phổ biến đến toàn thể công chức, viên chức của đơn vị mình bản Quy chế này. Công chức, viên chức thực hiện tốt sẽ được khen thưởng, người vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Điều 37. Việc bổ sung, sửa đổi các điều khoản trong Quy chế này do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định./.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.