Văn bản

Văn bản 498/BXD-GĐ

Ban hành Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
18/09/1996
Ngày có hiệu lực
18/09/1996
Hết hiệu lực
27/11/1999
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (2)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (59 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng. Bản Điều lệ này thay thế cho bản Điều lệ quản lý chất lượng công trình xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 20/BXD-GĐ ngày 10/6/1995 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và áp dụng đối với tất cả các công trình xây dựng trong cả nước.
Điều 3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thi hành Quyết định này.
Điều 1. Điều lệ này quy định nội dung trách nhiệm của Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn xây dựng (khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị, kiểm định chất lượng xây dựng...), doanh nghiệp xây dựng, cơ quan giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng và các tổ chức khác có liên quan trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, nghiệm thu và giải quyết sự cố công trình.
Điều 2. Khi xây dựng công trình (xây dựng mới, mở rộng, cải tạo.. .) thuộc các thành phần kinh tế, các tổ chức có liên quan quy định tại Điều 1 đều phải thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng theo Điều lệ này.
Điều 3. Tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng: 3.1. Quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng:
Điều 4. Các tổ chức tư vấn xây dựng, doanh nghiệp xây dựng, tổ chức cung ứng vật liệu xây dựng, cấu kiện xây dựng và thiết bị công nghệ phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình thực hiện và cung ứng.
Điều 5. Nhà nước khuyến khích các tổ chức tham gia xây dựng áp dụng đồng bộ các phương pháp quản lý chất lượng công trình xây dựng, các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến, kiện toàn hệ thống đảm bảo chất lượng công trình xây dựng, sử dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao nhằm tạo ra công trình đạt chất lượng tốt.
Điều 6. Các chi phí: giám sát thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị kiểm định chất lượng xây dựng, giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, nghiệm thu công trình xây dựng được tính trong vốn đầu tư xây dựng công trình và được xác định trong tổng dự toán công trình theo quy định của Bộ Xây dựng.
Điều 7. Nội dung chính của công tác quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng gồm:
Điều 8. Cục giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng thuộc Bộ Xây dựng; Sở Xây dựng thực hiện kiểm tra.
Điều 9. Phân cấp giám định:
Điều 10. Bộ Xây dựng xét và cấp thẻ giám định viên chất lượng công trình xây dựng các cấp: giám định viên, giám định viên chính, giám định viên cao cấp cho những người làm công tác này để tiến hành công vụ.
Điều 11. Cơ quan giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng các cấp thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng chủ yếu bằng phương thức kiểm tra xác suất; kết quả kiểm tra chất lượng công trình xây dựng được lập thành biên bản, trong đó có xác định mức độ chất lượng hoặc yêu cầu xử lý (nếu có). Các biên bản kiểm tra chất lượng công trình xây dựng đều được gửi cho các cơ quan liên quan: Chủ đầu tư, doanh nghiệp xây dựng, Sở Xây dựng, Bộ Xây dựng, Bộ quản lý ngành và Bộ hoặc sở quản lý xây dựng chuyên ngành (đối với công trình xây dựng chuyên ngành).
Điều 12. Các tổ chức bảo hiểm trong nước và ngoài nước thực hiện việc kiểm tra những điều kiện đảm bảo chất lượng công trình xây dựng để thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm xây dựng hay bảo hiểm công trình. Nếu doanh nghiệp xây dựng không đảm bảo được những điều kiện đó thì tổ chức bảo hiểm có quyền rút bỏ hợp đồng, từ chối nghĩa vụ bảo hiểm hoặc đề nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Điều 13. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng của mình đầu tư ở cả 3 giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác, sử dụng theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 14. Căn cứ yêu cầu kỹ thuật của từng dự án đầu tư, chủ đầu tư phải tổ chức đấu thầu lựa chọn tổ chức tư vấn xây dựng, doanh nghiệp xây dựng có tư cách pháp nhân, có chứng chỉ hành nghề và năng lực phù hợp để ký kết hợp đồng lập dự án đầu tư, khảo sát thiết kế, tư vấn giám sát thi công và lắp đặt thiết bị. Trong hợp đồng giao nhận thầu tư vấn xây dựng và xây lắp công trình đều phải có điều khoản về đảm bảo chất lượng công trình, xác định cụ thể trách nhiệm của mỗi bên.
Điều 15. Trước khi khởi công xây dựng công trình, Chủ đầu tư phải thực hiện đầy đủ các thủ tục về thẩm định và xét duyệt dự án đầu tư, thẩm định và xét duyệt thiết kế kỹ thuật đúng quy định hiện hành của Nhà nước. Trong quá trình xây lắp phải bố trí cán bộ kỹ thuật hoặc thuê tổ chức tư vấn có chứng chỉ hành nghề thực hiện giám sát kỹ thuật xây dựng đúng thiết kế được duyệt, tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành của Nhà nước hay của ngành và các điều khoản của hợp đồng kinh tế đã ký kết; kịp thời tổ chức nghiệm thu chất lượng công trình xây dựng theo quy định tại chương VI của Điều lệ này.
Điều 16. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về chất lượng vật liệu xây dựng, cấu kiện xây dựng và thiết bị công nghệ do mình cung ứng.
Điều 17. Chủ đầu tư có quyền yêu cầu tổ chức tư vấn xây dựng (khảo sát thiết kế, giám sát thi công công trình xây dựng và lắp đặt thiết bị, quản lý thực hiện dự án), doanh nghiệp xây dựng giải trình về chất lượng các công việc do họ thực hiện. Nếu công việc nào không đạt chất lượng, Chủ đầu tư có quyền yêu cầu tổ chức thực hiện công việc đó sửa chữa theo quy định tại Chương VII của Điều lệ này hoặc từ chối nghiệm thu chất lượng của đối tượng nghiệm thu không đạt yêu cầu thiết kế, không phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng hoặc không phù hợp với điều khoản về chất lượng được quy định trong hợp đồng giao nhận thầu xây dựng.
Điều 18. Doanh nghiệp xây dựng phải có tư cách pháp nhân, có chứng chỉ hành nghề xây dựng mới được hành nghề và phải chịu trách nhiệm về chất lượng thi công xây lắp công trình (theo hợp dồng giao nhận thầu) do đơn vị mình thực hiện.
Điều 19. Doanh nghiệp xây dựng chỉ được nhận thầu thi công xây lắp những công trình tương ứng với điều kiện và năng lực được xác nhận trong chứng chỉ hành nghề xây dựng; phải thi công đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng và hợp đồng giao nhận thầu xây dựng; phải chịu sự giám sát, kiểm tra chất lượng của Chủ đầu tư, cơ quan thiết kế và cơ quan giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (theo phân cấp).
Điều 20. Doanh nghiệp xây dựng phải tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng công trình của mình để thực hiện chế độ quản lý chất lượng trong quá trình thi công xây lắp.
Điều 21. Người làm công tác thí nghiệm, hiệu chỉnh, thử nghiệm và công nhân làm nghề đặc biệt phải được đào tạo nghiệp vụ và có chứng chỉ chuyên môn.
Điều 22. Vật liệu, cấu kiện xây dựng do Doanh nghiệp xây dựng sử dụng vào công trình phải có chứng chỉ xuất xưởng, trước khi sử dụng phải tiến hành thí nghiệm để kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành của Nhà nước. Trong quá trình xây dựng phải thực hiện đầy đủ công tác thí nghiệm đối với sản phẩm xây dựng, phải lập đầy đủ hồ sơ, tài liệu thí nghiệm nêu trên.
Điều 23. Trường hợp doanh nghiệp xây dựng sử dụng vật liệu hay cấu kiện xây dựng do mình sản xuất thì doanh ghiệp phải đảm bảo chất lượng các loại vật liệu đó đúng tiêu chuẩn hiện hành của Nhà nước và khi sử dụng vào công trình phải thực hiện theo quy định tại Điều 22 của Điều lệ này.
Điều 24. Tổ chức tư vấn xây dựng khi lập dự án đầu tư, khảo sát và thiết kế công trình phải tuân thủ quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng, các văn bản pháp quy hiện hành của Nhà nước và của ngành, và hợp đồng kinh tế đã ký kết. Tổ chức tư vấn xây dựng phải có hệ thống đảm bảo chất lượng của mình, thực hiện kiểm tra chất lượng chặt chẽ trong quá trình thực hiện hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về chất lượng đối với các sản phẩm của mình; cùng với chủ đầu tư bảo vệ dự án đầu tư và thiết kế công trình xây dựng trước cơ quan thẩm định và xét duyệt.
Điều 25. Tổ chức tư vấn xây dựng chỉ được nhận thầu lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, giám sát thi công công trình xây dựng và lắp đặt thiết bị, kiểm định chất lượng xây dựng, nghiệm thu công trình xây dựng hay quản lý thực hiện dự án trong giới hạn quy định tại chứng chỉ hành nghề tư vấn xây dựng: phải chịu sự kiểm tra của Chủ đầu tư và cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng.
Điều 26. Chất lượng tài liệu khảo sát, thiết kế phải đảm bảo:
Điều 27. Tổ chức thiết kế phải thực hiện công tác giám sát tác giả trong suốt quá trình thi công xây lắp, hoàn thiện và nghiệm thu công trình đưa vào khai thác sử dụng. Kinh phí của việc giám sát tác giả đã được tính trong giá thiết kế.
Điều 28. Việc kiểm định khối lượng và chất lượng xây dựng chỉ thực hiện theo yêu cầu của chủ đầu tư hoặc cơ quan giám định chất lượng công trình xây dựng trong những trường hợp sau:
Điều 29. Tổ chức nghiệm thu:
Điều 30. Đối tượng nghiệm thu:
Điều 31. Căn cứ để nghiệm thu.
Điều 32. Trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức trong công tác nghiệm thu công trình xây dựng.
Điều 33. Nội dung công tác nghiệm thu trong giai đoạn xây lắp công trình.
Điều 34. Nội dung công tác nghiệm thu khi hoàn thành công trình xây dựng:
Điều 35. Trình tự tiến hành công tác nghiệm thu:
Điều 36. Trong quá trình xây dựng và trong thời hạn bảo hành, nếu công trình xây dựng không đạt yêu cầu chất lượng của thiết kế thì Doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm thực hiện việc sửa chữa.
Điều 37. Nếu vì công trình xây dựng gây ra những thiệt hại cho các công trình lân cận thì người gây ra lỗi phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.
Điều 38. Nhận được thông báo của Chủ đầu tư yêu cầu sửa chữa hư hại công trình thì doanh nghiệp xây dựng phải tới ngay hiện trường (không chậm quá một tuần) cùng Chủ đầu tư xác định nguyên nhân hư hỏng và nội dung sửa chữa. Nếu nguyên nhân hư hỏng thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp xây dựng mà doanh nghiệp đó không sửa chữa đúng hạn yêu cầu Chủ đầu tư có quyền thuê doanh nghiệp khác sửa chữa, trách nhiệm kinh tế được thực hiện theo Điều 36 của Điều lệ này.
Điều 39. Khi có tranh chấp về trách nhiệm đối với việc sửa chữa hư hỏng và bồi thường thiệt hại do không đảm bảo chất lượng công trình xây dựng, các bên có thể giải quyết thông qua thương lượng hoặc hoà giải. Nếu việc thương lượng hoặc hoà giải không thành thì các bên kiến nghị đến cơ quan Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (theo phân cấp) để giải quyết. Kết luận của cơ quan Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng cấp cao nhất là quyết định mà các bên phải tuân theo.
Điều 40. Sự cố công trình xây dựng:
Điều 41. Bảo vệ hiện trường và khai báo sự cố:
Điều 42. Cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận thông báo về sự cố công trình xây dựng:
Điều 43. Lập hồ sơ sự cố công trình xây dựng:
Điều 44. Điều tra sự cố công trình xây dựng:
Điều 45. Giải quyết sự cố công trình xây dựng.
Điều 46. Thống kê và báo cáo về sự cố công trình xây dựng:
Điều 47. Công tác kiểm tra Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng là bắt buộc nhằm làm cho các bên tham gia xây dựng công trình chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về đảm bảo chất lượng công trình xây dựng, đề ra kịp thời các biện pháp phòng ngừa, khắc phục, loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng công trình xây dựng. Công tác kiểm tra phải được tiến hành trong quá trình thực hiện đầu tư và khai thác sử dụng công trình xây dựng.
Điều 48. Chế độ kiểm tra Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng gồm:
Điều 49. Xử lý các vi phạm quản lý chất lượng công trình xây dựng được thực hiện theo các Điều 55, 56, 57 và 58 của bản "Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng" ban hành kèm theo Nghị định số 42/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ, các Điều 36, 37, 38 của Điều lệ này và các văn bản pháp luật có liên quan khác của Nhà nước.
Điều 50. Khi Chủ đầu tư vi phạm một trong những quy định dưới đây, Giám đốc Sở Xây dựng, Bộ Xây dựng, Bộ quản lý ngành hoặc Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành quyết định tạm ngừng công việc để giải quyết hoặc xử lý theo pháp luật.
Điều 51. Khi doanh nghiệp xây dựng vi phạm một trong những quy định dưới đây thì Giám đốc Sở Xây dựng quyết định tạm ngừng công việc và kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 52. Khi tổ chức tư vấn xây dựng vi phạm một trong những quy định dưới đây thì Giám đốc Sở Xây dựng quyết định tạm ngừng công việc và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Điều 53. Khi giám định viên chất lượng công trình xây dựng các cấp vi phạm một trong những quy định dưới đây thì tuỳ theo mức độ vi phạm mà thủ trưởng cơ quan quản lý giám định có biện pháp xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm theo pháp luật.
Điều 54. Người cản trở giám định viên chất lượng công trình xây dựng thi hành công vụ sẽ bị xử phạt theo pháp luật.
Điều 55. Điều lệ này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Những quy định khác trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.
Điều 56. Các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thi hành bản Điều lệ này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.