Nghị định · Chính phủ

Nghị định 50/1998/NĐ-CP

Quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
16/07/1998
Ngày có hiệu lực
01/08/1998
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (18)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (49 điều)

Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Nghị định này quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ được ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25 tháng 6 năm 1996.
  Điều 2. Những quy định về an toàn và kiểm soát bức xạ có liên quan đến quan hệ quốc tế phải được tổ chức và thực hiện phù hợp với các quy định của Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam, của các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
  Điều 3. Trong Nghị định này những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
Chương II — TRÁCH NHIỆM BẢO ĐẢM AN TOÀN BỨC XẠ
  Điều 4.
  Điều 5.
  Điều 6.
  Điều 7.
  Điều 8. Định kỳ hàng năm người quản lý cơ sở bức xạ phải tổ chức ôn luyện quy chế an toàn bức xạ, bổ sung các kiến thức mới về an toàn bức xạ cho nhân viên, căn cứ vào kết quả kiểm tra kiến thức và kiểm tra sức khỏe định kỳ để cấp chứng chỉ cho phép nhân viên tiếp tục làm việc. Nhân viên có giấy phép làm công việc bức xạ đặc biệt cũng phải tham gia ôn luyện quy chế an toàn bức xạ, bổ sung các kiến thức mới về an toàn bức xạ.
  Điều 9. Người quản lý cơ sở bức xạ có trách nhiệm:
  Điều 10.
  Điều 11.
  Điều 12. Người quản lý cơ sở bức xạ phải bảo đảm kiểm tra và hiệu chuẩn định kỳ 12 tháng một lần cho các máy đo lường bức xạ, các máy xạ trị và các thiết bị bức xạ. Các máy mới nhập về hoặc sau khi sửa chữa phải được kiểm tra và hiệu chuẩn trước khi sử dụng.
  Điều 13.
  Điều 14. Người quản lý cơ sở bức xạ phải thực hiện các biện pháp quản lý, xử lý và thải các chất thải phóng xạ theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
  Điều 15. Khi cơ sở bức xạ có quyết định giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động, để bảo đảm an toàn bức xạ:
  Điều 16.
  Điều 17. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường quy định các tiêu chuẩn an toàn đối với nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, cơ sở bức xạ, chất phóng xạ, chất thải phóng xạ và các công việc bức xạ.
Chương III — TRÁCH NHIỆM GIẢI QUYẾT SỰ CỐ BỨC XẠ
  Điều 18. Các mức sự cố bức xạ:
  Điều 19. Khi sự cố bức xạ xảy ra, người quản lý cơ sở bức xạ có trách nhiệm:
  Điều 20.
  Điều 21. Khi nhận được báo cáo khẩn cấp về sự cố bức xạ:
  Điều 22. Khi sự cố bức xạ xảy ra ở mức 3 (sự cố bức xạ đặc biệt nghiêm trọng) điểm 2 Điều 18, ngoài những quy định tại Điều 20 và 21 của Nghị định này:
Chương IV — KHAI BÁO, CẤP GIẤY ĐĂNG KÝ, CẤP GIẤY PHÉP
  Điều 23. Tổ chức, cá nhân có cơ sở bức xạ, nguồn bức xạ, chất thải phóng xạ hoặc tiến hành công việc bức xạ phải khai báo với cơ quan quản lý Nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường theo hướng dẫn của cơ quan này.
  Điều 24. Tổ chức, cá nhân có cơ sở bức xạ, nguồn bức xạ, chất thải phóng xạ hoặc tiến hành công việc bức xạ phải xin cấp giấy đăng ký nguồn bức xạ, giấy đăng ký địa điểm cất giữ chất thải phóng xạ theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ.
  Điều 25. Tổ chức, cá nhân có cơ sở bức xạ, nguồn bức xạ, chất thải phóng xạ hoặc tiến hành công việc bức xạ phải xin cấp giấy phép hoạt động của cơ sở bức xạ, giấy phép tiến hành công việc bức xạ (sản xuất, sử dụng, nhập khẩu, vận chuyển ... các nguồn bức xạ) theo quy định tại Điều 24 của Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ.
  Điều 26.
  Điều 27. Tổ chức, cá nhân có cơ sở bức xạ, nguồn bức xạ, chất thải phóng xạ hoặc tiến hành công việc bức xạ đã tồn tại hoặc hoạt động trước ngày 01 tháng 01 năm 1997 mà chưa khai báo, chưa xin cấp giấy đăng ký, chưa xin cấp giấy phép thì cũng phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ và Nghị định này.
  Điều 28. Thời hạn của giấy phép được quy định như sau:
  Điều 29. Tổ chức, cá nhân muốn gia hạn giấy phép phải làm các thủ tục gia hạn chậm nhất 60 ngày trước khi giấy phép hết hạn.
  Điều 30.
  Điều 31.
  Điều 32. Giấy phép hoạt động của cơ sở bức xạ, giấy phép tiến hành công việc bức xạ hoặc giấy phép cho nhân viên làm công việc bức xạ đặc biệt bị thu hồi trong các trường hợp sau:
  Điều 33. Các dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ phải được cơ quan quản lý Nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thẩm định về công nghệ và điều kiện bảo đảm an toàn bức xạ.
Chương V — TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN
  Điều 34.
  Điều 35. Bộ Y tế có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tiến hành các công việc sau đây:
  Điều 36. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức xây dựng và đề nghị Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chế độ chính sách cho nhân viên bức xạ.
  Điều 37. Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức:
  Điều 38. Bộ Thương mại chỉ cấp giấy phép xuất nhập khẩu cho các nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ, thiết bị đồng bộ, dây chuyền công nghệ có sử dụng nguồn phóng xạ khi có ý kiến chính thức bằng văn bản của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
  Điều 39. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ cấp giấy phép đầu tư hoặc thỏa thuận quyết định đầu tư xây dựng cho các công trình, dây chuyền công nghệ có sử dụng nguồn bức xạ khi có giấy phép của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
  Điều 40.
  Điều 41.
  Điều 42.
Chương VI — THANH TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
  Điều 43. Thanh tra an toàn và kiểm soát bức xạ là thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực an toàn và kiểm soát bức xạ thuộc hệ thống thanh tra Nhà nước chuyên ngành về khoa học, công nghệ và môi trường của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
  Điều 44.
  Điều 45. Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường quy định tổ chức, quyền hạn, phạm vi hoạt động của thanh tra chuyên ngành an toàn và kiểm soát bức xạ, ban hành quy chế hoạt động thanh tra an toàn và kiểm soát bức xạ phù hợp với Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ và Pháp lệnh Thanh tra.
  Điều 46. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định trong Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ và Nghị định này thì tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương VII — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
  Điều 47. Nghị định này có hiệu lực sau 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày ký. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
  Điều 48. Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc thi hành Nghị định này.
  Điều 49. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.