Quyết định · UBND

Quyết định 51/2005/QĐ-UBND

Ban hành Quy định xử lý các trường hợp công trình xây dựng và đất nằm trong hành lang an toàn đường bộ cấp tỉnh quản lý trên địa bàn tỉnh Tiền Giang

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
12/10/2005
Ngày có hiệu lực
22/10/2005
Hết hiệu lực
25/11/2013
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (3)

Bố cục (37 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này Quy định xử lý các trường hợp công trình xây dựng và đất nằm trong hành lang an toàn đường bộ thuộc cấp tỉnh quản lý trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký, các quy định trước đây trái với quyết định này đều được bãi bỏ.
Điều 3. Giám đốc Sở Giao thông Vận tải chủ trì, phối hợp các sở, ngành có liên quan tổ chức triển khai, thực hiện quyết định này.
Điều 4. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải, Giám đốc Sở Xây dựng, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; thủ trưởng các sở, ban, ngành liên quan; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
Chương I — CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Mục đích, phạm vi và đối tượng áp dụng
  Điều 2. Giải thích từ ngữ
  Điều 3. Các công trình xây dựng trong HLATĐB làm ảnh hưởng sự bền vững của kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ hoặc gây nguy hiểm cho an toàn giao thông đường bộ đều phải giải tỏa, di dời theo quy định pháp luật.
  Điều 4. Nghiêm cấm xây dựng công trình và cấp các loại giấy phép xây dựng trong HLATĐB. Trong trường hợp xây dựng công trình có sử dụng và khai thác khoảng không, vùng đất trong phạm vi HLATĐB thì phải thực hiện các thủ tục theo quy định của Chính phủ.
  Điều 5. Các công trình xây dựng trong HLATĐB, trước đây đã có các quyết định xử lý, giải tỏa của Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp huyện) nhưng chưa thực hiện hoàn thành thì tiếp tục thực hiện theo quy định của quyết định tại thời điểm đó.
  Điều 6. Các công trình xác định cần phải giải tỏa, di dời. Sau khi thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục xử lý vi phạm hành chính mà chủ công trình không tự nguyện chấp hành thì sẽ tiến hành cưỡng chế. Trình tự, thủ tục cưỡng chế thực hiện theo Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ về thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính.
Chương II — XỬ LÝ CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG NẰM TRONG HÀNH LANG AN TOÀN ĐƯỜNG BỘ
  Điều 7. Các công trình đã xây dựng trước thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định thực hiện theo Nghị định 203/HĐBT
  Điều 8. Các công trình xây dựng sau thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định thực hiện theo Nghị định 203/HĐBT
Chương III — XỬ LÝ CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG PHẦN MỞ RỘNG HÀNH LANG AN TOÀN ĐƯỜNG BỘ
  Điều 9. Các công trình xây dựng trước thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định thực hiện theo Nghị định 172/CP, Nghị định 186/CP
  Điều 10. Các công trình xây dựng sau thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định thực hiện theo Nghị định 172/CP, Nghị định 186/CP
  Điều 11. Giải quyết các thủ tục về đất và công trình xây dựng nằm trong phần mở rộng HLATĐB
  Điều 12. Đối với các trường hợp cải tạo sửa chữa công trình
Chương IV — XỬ LÝ MỘT SỐ CÔNG TRÌNH PHỤ TRỢ NGOÀI VÙNG DÂN CƯ THUỘC KHU VỰC NÔNG THÔN
  Điều 13. Các công trình là hàng rào, trụ cổng kiên cố xây dựng trước thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quy định về HLATĐB, nằm trong HLATĐB, cách mép chân đường không nhỏ hơn 03m (ba mét) được tạm thời để lại, nhưng phải làm bảng kê khai và khi có yêu cầu giải tỏa di dời, chủ công trình phải chấp hành và được xem xét bồi thường theo luật định.
  Điều 14. Các công trình hàng rào tạm, trụ cổng tạm (trồng cột bê tông, mắc lưới kẽm không xây gạch, rào bằng cây hoa kiểng, cây trồng thân thấp) xây dựng trước thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quy định về HLATĐB, nằm trong HLATĐB, cách chân đường không nhỏ hơn 02m (hai mét) được tạm thời giữ nguyên hiện trạng, nhưng khi có yêu cầu giải tỏa, vận động chủ công trình tự giác di dời ra ngoài HLATĐB và không bồi thường.
  Điều 15. Các hàng rào, trụ cổng nói ở Điều 13 và Điều 14 quy định này tại vị trí các nơi giao cắt với đường khác không được xây dựng trong phần góc tầm nhìn tính từ mép chân đường của mỗi đường vào ít nhất là 10m (mười mét); nếu nằm trong vị trí “bụng” của đường cong nguy hiểm phải cách chân đường tại trung tâm điểm của đường cong ít nhất là 10m (mười mét) và hướng về mỗi phía dọc theo đường ít nhất là 10m (mười mét).
  Điều 16. Các hàng rào trụ cổng đã được xây dựng sau thời điểm ban hành các Quyết định về HLATĐB, nằm trong HLATĐB đều phải làm bảng kê khai và cam kết, chủ công trình phải chấp hành nghiêm các quyết định xử lý buộc phải di dời và không bồi thường.
Chương V — XỬ LÝ CÁC LOẠI ĐẤT NẰM TRONG HÀNH LANG
  Điều 17. Việc khai thác, sử dụng đất nằm trong phạm vi HLATĐB, ngoài đô thị thực hiện theo Khoản 1, Điều 25 của Nghị định 186/CP.
  Điều 18. Các loại đất nằm trong HLATĐB đã có các quyết định thu hồi của Uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện, nhưng chưa thực hiện thì tiếp tục thực hiện các nội dung quy định theo quyết định tại thời điểm đó.
  Điều 19. Đất nằm trong HLATĐB, chủ hộ được sử dụng theo mục đích đã được xác định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải tuân theo quy định về đảm bảo HLATĐB, không được xây dựng mới trong phần đất HLATĐB, phải giữ nguyên hiện trạng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng khi không có phép của cơ quan có thẩm quyền.
  Điều 20. Đất nằm trong HLATĐB, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sẽ được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
  Điều 21. Đất nông nghiệp nằm trong hành lang bảo vệ công trình giao thông đường bộ không được phép chuyển mục đích sử dụng sang đất phi nông nghiệp. Trừ trường hợp sử dụng đất vào mục đích của các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Xây dựng, Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt.
  Điều 22. Đất nằm trong HLATĐB, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có xác định phần đất ở nhưng chưa xây dựng nhà ở, hoặc đã xây dựng nhà ở trước thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các quyết định thực hiện theo các Nghị định 203/HĐBT, Nghị định 172/CP, Nghị định 186/CP, khi tự nguyện tháo dở, di chuyển ra ngoài HLATĐB để xây dựng lại nhà ở thì được miễn tiền sử dụng đất ở tương ứng với phần diện tích đã có ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong HLATĐB.
Chương VI — TỔ CHỨC THỰC HIỆN
  Điều 23. Giao trách nhiệm Giám đốc Sở Giao thông Vận tải, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, Giám đốc Sở Xây dựng triển khai và có hướng dẫn thực hiện quy định này trong lĩnh vực thuộc ngành quản lý.
  Điều 24. Sở Giao thông Vận tải
  Điều 25. Công an tỉnh
  Điều 26. Sở Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Sở Giao thông Vận tải để tổ chức thẩm định trình Ủy ban nhân dân tỉnh các dự án của địa phương có liên quan đến HLATĐB và kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với đường tỉnh lộ.
  Điều 27. Sở Tài chính hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện lập dự toán chi cho công tác điều tra, kê khai và các công tác chuyên môn phục vụ cho bảo vệ HLATĐB, công tác cưỡng chế…phân bổ kinh phí và thanh quyết toán đảm bảo đúng quy định.
  Điều 28. Uỷ ban nhân dân cấp huyện
  Điều 29. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
  Điều 30. Kinh phí tổ chức điều tra, thống kê, lập các biểu mẫu và tập huấn sẽ được sử dụng từ nguồn kinh phí an toàn giao thông của cấp tỉnh và cấp huyện.
Chương VII — XỬ LÝ VI PHẠM VÀ BỔ SUNG, SỬA ĐỒI
  Điều 31. Khen thưởng
  Điều 32. Xử lý vi phạm
  Điều 33. Bổ sung, sửa đổi

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.