Văn bản

Văn bản 13/CP

Ban hành bản Quy chế quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và các khu vực hàng hải ở Việt Nam

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
25/02/1994
Ngày có hiệu lực
25/02/1994
Hết hiệu lực
06/01/2004
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (2)

Được hướng dẫn bởi (3)

Hướng dẫn thi hành (3)

Bố cục (54 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này Quy chế quản lý hoạt động hàng Hải tại cảng biển và các khu vực Hàng hải ở Việt Nam.
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký; các quy ước trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Điều 1. Bản quy chế này quy định việc mở cảng, mở luồng và chế độ hoạt động của tầu thuyền các loại tại cảng biển hoặc các khu vực hàng hải ở Việt Nam, nhằm bảo đảm các điều kiện an toàn hàng hải, vệ sinh - trật tự, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do tầu biển gây ra ở những nơi đó.
Điều 2. Các quy định của Quy chế này được áp dụng bắt buộc đối với mọi người, mọi phương tiện hoạt động tại các cảng biển, cơ sở sửa chữa đóng tàu biển, vùng neo đậu tránh bão, luồng dành cho tàu biển, và các khu vực hàng hải đã được Cục Hàng Hải Việt Nam công bố cho phép tầu biển vào hoạt động.
Điều 3.
Điều 4. Giám đốc Cảng vụ căn cứ Quy chế này và những điều kiện đặc thù tại khu vực thuộc phạm vi trách nhiệm để ban hành các quy định cụ thể, nhằm mục đích bảo đảm các điều kiện an toàn hàng hải, vệ sinh - trật tự, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do tầu biển gây ra, sau khi được Cục trưởng Cục Hàng Hải Việt Nam chấp thuận.
Điều 5. Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm công bố việc mở, đóng cửa các cảng biển và luồng dành cho tầu biển theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Giao Thông vận tải, sau khi đã được Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Điều 6.
Điều 7.
Điều 8. Trong trường hợp xét thấy cần phải tạm thời cấm tầu biển ra và, hoạt động tại các cảng biển, cơ sở sửa chữa - đóng tầu biển, luồng dành cho tầu biển và các khu vực hàng hải khác, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam phải báo cáo và xin phép Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải trước khi chính thức công bố.
Điều 9. Tàu biển chỉ được phép vào hoạt động tại các khu vực thuộc cảng biển, cơ sở sửa chữa - đóng tầu biển, vùng neo đậu tránh bão, luồng dành cho tầu biển và các khu vực hàng hải khác, sau khi Cục Hàng hải Việt Nam công bố chính thức cho tầu biển vào hoạt động.
Điều 10. - Cục Hàng hải Việt Nam tổ chức việc đăng ký các cảng biển vào Danh bạ cảng biển Việt Nam và giám sát hoạt động khai thác các cảng đó trên cơ sở mục đích đã đăng ký và là cơ quan duy nhất có thẩm quyền công bố các số liệu chính thức về các cảng biển, luồng dành cho tầu biển và các vùng hàng hải khác tại Việt Nam.
Điều 11. Tầu thuyền nước ngoài khi vào hoạt động tại các cảng biển Việt Nam, quá cảnh Việt Nam để đến nước thứ ba hoặc hoạt động tại các khu vực hàng hải của Việt Nam đều phải xin cấp phép theo trình tự sau đây: a) Tầu thuyền nước ngoài dùng vào mục đích vận chuyển hàng hoá hoặc hành khách phải xin phép Cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam ít nhất ba ngày trước khi dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu và sau khi đã được cấp phép phải thông báo cho Giám đốc Cảng vụ có liên quan, chậm nhất 12 giờ trước khi tầu dự kiến đến vị trí đón trả hoa tiêu.
Điều 12. Tầu thuyền nước ngoài cũng có thể được miễn thủ tục xin cấp phép đến cảng trong những trường hợp đặc biệt sau đây :
Điều 13. Việc cấp phép cho tầu có thể do chủ tầu, Đại diện chủ tầu hoặc Đại lý của chủ tầu trực tiếp thực hiện.
Điều 14. Tầu thuyền quân sự nước ngoài và các loại tầu thuyền nước ngoài khác đến Việt Nam theo lời mời chính thức của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làm thủ tục xin vào Việt Nam theo quy định riêng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này, nhưng vẫn phải thực hiện các quy định vào cảng và rời cảng nói theo Quy chế này.
Điều 15.
Điều 16. Các tầu thuyền nước ngoài và các tầu thuyền Việt Nam có tổng dung tích toàn phần từ 200 GRT trở lên đều phải dừng lại tại vị trí đón trả hoa tiêu chờ lệnh của Giám đốc cảng vụ cho phép đi vào vùng nước cảng. Chỉ sau khi Giám đốc Cảng vụ cho phép thì các tầu thuyền này mới được vào neo đậu tại vị trí do Cảng vụ chỉ định trong vùng nước cảng hoặc đi qua thuỷ diện cảng.
Điều 17.
Điều 18.
Điều 19. Tuỳ theo tình hình cụ thể các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm làm thủ tục cho tầu vào cảng sẽ quyết định và thông báo cho tầu về nơi, thời điểm làm thủ tục, nhưng không được muộn quá 2 giờ, kể từ khi Cảng vụ thông báo là tầu đã đến vị trí đón trả hoa tiêu.
Điều 20. Khi làm thủ tục vào Cảng, thuyền trưởng phải chuẩn bị sẵn sàng các loại giấy tờ sau đây:
Điều 21.
Điều 22.
Điều 24. Trong trường hợp tầu chỉ tạm thời lưu lại cảng trong khoảng thời gian không quá 6 giờ thuyền trưởng phải thông báo cho Giám đốc Cảng vụ biết. Giám đốc Cảng vụ phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý Nhà nước hữu quan bố trí cho tầu làm thủ tục vào và rời cảng cùng một lúc.
Điều 25. Nghiêm cấm những người ở trên tầu giao dịch với bất cứ ai ngoài hoa tiêu và các nhân viên công vụ đang làm thủ tục ở trên tầu trước khi tầu làm xong thủ tục vào cảng hoặc sau khi đã làm xong thủ tục rời cảng.
Điều 28. Khi hoạt động trong vùng nước cảng biển, luồng dành cho tầu biển hoặc khu vực hàng hải khác của Việt Nam, tầu biển, tầu sông và tất cả các loại phương tiện thuỷ khác đều phải chấp hành các quy tắc phòng ngừa va chạm tầu thuyền trên biển hiện hành.
Điều 29. Mọi hoạt động hàng hải của các loại tầu thuyền trong vùng nước cảng biển hoặc khu vực hàng hải khác, kể cả việc đi qua mà không neo đậu lại cảng đều được đặt dưới sự quản lý, giám sát của Cảng vụ.
Điều 30. Khi thực hiện các hoạt động trong vùng nước cảng biển và các khu vực hàng hải khác, tất cả các thuyền trưởng phải chú ý thực hiện nghiêm chỉnh các quy định sau đây:
Điều 31. Thuyền trưởng hoặc người chỉ huy các tầu thuyền chuyên dùng để nạo vét luồng, thả phao tiêu, đo đạc hoặc máy đóng cọc, cần cẩu nổi và các thiết bị công trình khác phải xin phép Cảng vụ trước khi tiến hành các hoạt động chuyên môn tại vùng nước cảng biển và khu vực hàng hải có liên quan. Trong khi hoạt động phải duy trì những dấu hiệu cảnh báo cần thiết và chấp hành mọi chỉ dẫn của Cảng vụ.
Điều 33. Sau khi có thông báo của Cảng vụ về kế hoạch điều tầu vào cầu, các cảng mà tầu sẽ vào, phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết để cho tầu cập cầu, và làm hàng an toàn. Cụ thể như sau:
Điều 34. Thuyền trưởng phải sử dụng các loại dây thích hợp khi neo tầu hoặc giữ chắc bằng các thiết bị chuyên dùng. Không được buộc dây lên các dầm, khung, hoặc các kết cấu khác không phải là nơi quy định để buộc tầu, trừ trường hợp được Giám đốc Cảng vụ hoặc Giám đốc Cảng cho phép.
Điều 38. Thuyền trưởng có nghĩa vụ báo cáo cho giám đốc cảng vụ biết về các tai nạn, sự cố hàng hải của tầu mình hoặc sự cố, tai nạn hàng hải do mình phát hiện được; tường trình đầy đủ về việc đâm va, mất neo, làm rơi hàng hoá và các đồ vật khác xuống biển, nếu chúng có thể trở thành chướng ngại vật hoặc các hư hỏng, sai lệch của hệ thống đèn biển, phao tiêu - báo hiệu hàng hải ở trong vùng nước cảng và phụ cận, nếu phát hiện được.
Điều 39. Khi có tai nạn xảy ra, thuyền trưởng và các tầu thuyền có liên quan phải tổ chức ngay lập tức việc tìm kiếm, cứu nạn những người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và khẩn trương tiến hành các biện pháp cần thiết để cứu tầu, hàng hoá.
Điều 40.
Điều 43. Tất cả các loại tầu thuyền lớn, nhỏ khi vào hoạt động trong vùng nước cảng phải ghi rõ tên, số hiệu, nơi đăng ký theo quy định hiện hành.
Điều 44. Khi tầu thuyền đang neo đậu trong vùng nước cảng biển, cấm các hành vi sau đây;
Điều 45.
Điều 46.
Điều 48.
Điều 49.
Điều 50.
Điều 51.
Điều 52.
Điều 53. Tất cả mọi người, mọi tầu thuyền đều có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia hoặc công nhận liên quan đến việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường tại vùng nước các cảng biển và các khu vực hàng hải của Việt Nam.
Điều 54. Khi hoạt động trong cảng và khu vực hàng hải liên quan, tất cả các van và thiết bị của tầu mà qua đó các chất độc hại có thể thoát ra ngoài đều phải được niêm phong kẹp chì và phải có biển thông báo tại chỗ về việc đó.
Điều 55. Khi tiến hành bơm các loại nước bẩn, nước thải có dầu hoặc các chất có đặc tính nguy hiểm khác qua đường ống trên mặt boong phải bịt kín các lỗ thoát nước mặt boong và có khay hứng ở những khớp nối ống.
Điều 56. Khi trực ca ở trên tầu, các sĩ quan và thuyền viên đang làm nhiệm vụ có trách nhiệm quan sát mặt nước ở xung quanh khu vực tầu đang neo đậu. Nếu phát hiện nguy cơ hoặc hành vi gây ô nhiễm môi trường, thì phải báo cáo ngay cho Cảng vụ biết. Đồng thời, phải ghi rõ vào Nhật ký hàng hải của tàu về vị trí, thời điểm và mô tả rõ nguồn gốc, tính chất, kích thước, hướng chuyển động của dòng nước bị ô nhiễm, nếu có phát hiện cụ thể.
Điều 57.
Điều 58. Việc phạt tiền đối với các hành vi vi phạm Quy chế này được quy định như sau:
Điều 59.
Điều 60.
Điều 61. Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn việc thực hiện Quy chế này./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.