Thông tư · Bộ Giao thông vận tải
Thông tư 26/2016/TT-BGTVT
Công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Nghệ An
- Tình trạng
- Hết hiệu lực
- Ngày ban hành
- 11/10/2016
- Ngày có hiệu lực
- 01/01/2017
- Hết hiệu lực
- 15/02/2026
Hết hiệu lực từ 15/02/2026 theo điều khoản hiệu lực của 57/2025/TT-BXD: “2. Bãi bỏ Thông tư số 26/2016/TT-BGTVT ngày 11 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải Nghệ An.”
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vnVăn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
- 57/2025/TT-BXD (15/02/2026)
Thay thế / bãi bỏ (2)
- 49/2013/TT-BGTVT — Công bố vùng nước các cảng biển thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh và khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải Hà Tĩnh (06/12/2013)
- 22/2007/QĐ-BGTVT — Công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An và khu vực quản lý của Cảng vụ hàng hải Nghệ An (17/04/2007)
Hướng dẫn thi hành (5)
- 21/2012/NĐ-CP — Về quản lý cảng biển và luồng hàng hải (21/03/2012)
- 40/2005/QH11 — Hàng hải Việt Nam (14/06/2005)
- 107/2012/NĐ-CP — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông vận tải (20/12/2012)
- 21/2012/NĐ-CP — Về quản lý cảng biển và luồng hàng hải (21/03/2012)
- 40/2005/QH11 — Hàng hải Việt Nam (14/06/2005)
Bố cục (7 điều)
Điều 1. Công bố vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An Điều 2. Phạm vi vùng nước cảng biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An Điều 3. Vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, khu nước, vùng nước có liên quan khác Điều 4. Trách nhiệm của Cảng vụ Hàng hải Nghệ An và các cơ quan liên quan Điều 5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về hàng hải trong vùng biển thuộc địa phận tỉnh Nghệ An Điều 6. Hiệu lực thi hành Điều 7. Tổ chức thực hiện
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.