Văn bản

Văn bản 828-CNNg/QLTN

Ban hành Quy chế đóng cửa mỏ các khoáng sản rắn

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
16/12/1992
Ngày có hiệu lực
16/12/1992
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (21 điều)

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế đóng cửa mỏ các khoáng sản rắn để áp dụng thống nhất trong cả nước.
Điều 2. Các Bộ quản lý ngành hữu quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương. Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khai thác mỏ khoáng sản rắn có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 3. Các quy định trước đây trái với Quy chế kèm theo Quyết định này đều bãi bỏ.
Điều 1. Quy chế này quy định những việc phải thực hiện khi đóng cửa mỏ các khoáng sản rắn nhằm:
Điều 2. Các trường hợp đóng cửa mỏ phải thực hiện theo Quy chế này gồm:
Điều 3. Quy chế này không áp dụng đối với các trường hợp sau đây khi giấy phép khai thác mỏ vẫn có hiệu lực:
Điều 4. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác mỏ có thẩm quyền cho phép thanh lý mỏ, phê duyệt, phê duyệt đề án hoặc tờ trình đóng cửa mỏ theo phân cấp hiện hành của Chính phủ.
Điều 5. Chủ giấy phép khai thác mỏ phải thực hiện các công việc đóng cửa mỏ để thanh lý theo đề án hoặc tờ trình đóng cửa mỏ đã được phê duyệt kèm theo quyết định cho phép thanh lý mỏ của cơ quan có thẩm quyền nói tại Điều 4.
Điều 6. Khi đóng cửa toàn bộ khu vực khai thác mỏ theo giấy phép khai thác đã cấp, chủ giấy phép khai thác mỏ phải nộp toàn bộ tài liệu địa chất và tài liệu khai thác mỏ, các văn bản pháp lý về quyền khai thác mỏ, quyền sử dụng đất đai và các tài nguyên khác cũng như các công trình công cộng có tại xí nghiệp mỏ ở thời điểm đóng cửa mỏ cho cơ quan đã cấp giấy phép khai thác mỏ đó.
Điều 7. Sau khi các công việc đóng cửa mỏ đã được nghiệm thu theo Quy chế này và đã làm xong thủ tục trả lại đất đai thì tài nguyên khoáng sản còn lại ở khu vực khai thác mỏ đã được đóng cửa phải được bảo vệ như đối với tài nguyên khoáng sản chưa khai thác theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 95-HĐBT ngày 25/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thi hành Pháp lệnh về Tài nguyên khoáng sản.
Điều 8. Mọi chi phí để thực hiện các công việc đóng cửa mỏ theo Quy chế này do chủ giấy phép khai thác mỏ thanh toán.
Điều 9. Chủ giấy phép khai thác mỏ được phép thanh lý một phần hay toàn bộ khu vực khai thác mỏ theo giấy phép đã cấp khi đủ căn cứ chứng minh trữ lượng khoáng sản có giá trị thương mại ở đó đã được khai thác hết.
Điều 10. Ngay sau khi giấy phép khai thác mỏ hết hiệu lực hoặc đề nghị trả lại giấy phép khai thác mỏ đã được cơ quan cấp giấy phép đó chấp nhận bằng văn bản, khu vực khai thác mỏ sẽ được bàn giao để bảo vệ, chủ giấy phép khai thác mỏ phải đồng gửi đến Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước và Phòng Quản lý tài nguyên khoáng sản thuộc Sở Công nghiệp của địa phương:
Điều 11. Cục Quản lý Tài nguyên khoáng sản Nhà nước hoặc Phòng Quản lý tài nguyên khoáng sản thuộc Sở Công nghiệp của địa phương, theo chức năng được giao, có trách nhiệm chủ trì:
Điều 12. Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước (chi cục khu vực trực thuộc Cục) hoặc Phòng Quản lý tài nguyên khoáng sản thuộc Sở Công nghiệp địa phương theo chức năng được giao có trách nhiệm chủ trì tổ chức nghiệm thu kết quả thực hiện đề án đóng cửa mỏ, nhận bàn giao từ chủ giấy phép khai thác mỏ những tài liệu theo quy định ở Điều 6; Thông báo kết quả nghiệm thu công việc đóng cửa mỏ đến các cơ quan hữu quan ở Trung ương và địa phương.
Điều 13. Chủ giấy phép khai thác mỏ phải làm thủ tục trả lại đất đai khai thác mỏ cho cơ quan có chức năng quản lý đất đai ở địa phương theo Luật Đất đai và các quy định liên quan.
Điều 14. Việc sử dụng các công trình khai thác mỏ không nhằm mục đích khai thác khoáng sản ở các khu vực mỏ đã được thanh lý cũng như ở khu vực mỏ đã đóng cửa để bảo vệ phải được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép với sự thỏa thuận của Bộ Công nghiệp nặng. Việc khôi phục lại hoạt động khai thác mỏ ở khu vực mỏ đã đóng cửa tuân theo các quy định hiện hành của Bộ Công nghiệp nặng về nguyên tắc, thủ tục xin khai thác mỏ các khoáng sản rắn.
Điều 15. Những mỏ đã ngừng hoạt động từ trước ngày ban hành Quy chế này, nếu xét thấy chưa đảm bảo các yêu cầu theo Điều 1 thì xí nghiệp mỏ hoặc cơ quan chủ quản cấp trên của xí nghiệp (nếu xí nghiệp đã giải thể) phải thực hiện việc khảo sát lại khai trường và tiến hành các công việc phải làm khi đóng cửa mỏ theo Quy chế này.
Điều 16. Luận chứng kinh tế - kỹ thuật khai thác mỏ được xây dựng sau ngày ban hành Quy chế này phải dự toán các công việc phải làm khi đóng cửa mỏ theo Quy chế này.
Điều 17. Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Quy chế này đều bị bãi bỏ.
Điều 18. Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước, Thủ trưởng các Vụ thuộc Bộ Công nghiệp nặng theo chức năng được giao có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Quy chế này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.