Quyết định · Thủ tướng Chính phủ

Quyết định 86/2000/QĐ-TTg

Ban hành Quy chế Trường đại học dân lập

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
18/07/2000
Ngày có hiệu lực
02/08/2000
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (61 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế Trường đại học dân lập
Điều 2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính và các Bộ, ngành có liên quan hướng dẫn chi tiết thi hành Quy chế này.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với quy định tại Quy chế này đều bãi bỏ.
Điều 4. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 1. Trường đại học dân lập là cơ sở giáo dục đại học do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế (dưới đây gọi chung là tổ chức) xin thành lập và huy động các nhà giáo, nhà khoa học, nhà đầu tư cùng đóng góp công sức, kinh phí và cơ sở vật chất ban đầu từ nguồn ngoài ngân sách Nhà nước. Trường đại học dân lập là pháp nhân được tự chủ về tổ chức bộ máy, tuyển dụng lao động và tài chính. Tài sản của trường thuộc quyền sở hữu tập thể của những người góp vốn đầu tư, các giảng viên, cán bộ và nhân viên nhà trường.
Điều 2. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trường đại học dân lập trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 3. Trường đại học dân lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan quản lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ đồng thời chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân tỉnh) nơi trường đặt trụ sở. Trường đại học dân lập có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Ngân hàng Thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để giao dịch.
Điều 4. Trường đại học dân lập bình đẳng với trường đại học công lập về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường, của giảng viên và sinh viên, trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và các quy định liên quan đến tuyển sinh, dạy và học, thi, kiểm tra công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng; được hưởng các chính sách ưu đãi đối với các cơ sở giáo dục - đào tạo ngoài công lập theo quy định của Chính phủ.
Điều 5. Trường đại học dân lập được thành lập sau thời điểm ban hành Quy chế này phải bảo đảm có đủ các điều kiện sau đây:
Điều 6. Khi đảm bảo các điều kiện quy định tại Điều 5 của Quy chế này, tổ chức xin thành lập trường gửi hồ sơ đến Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hồ sơ gồm:
Điều 7. Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp nhận hồ sơ, chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi đặt trụ sở của trường và các cơ quan có liên quan tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Điều 8. Sau khi có quyết định thành lập trường của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét đề nghị của tổ chức xin thành lập trường để:
Điều 9. Sau thời hạn một năm kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trường, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng Chính phủ thu hồi quyết định thành lập trường, nếu nhà trường không có đủ các văn bản quy định tại các khoản 1, 2, 3 , 4, Điều 8 của Quy chế này.
Điều 10. Tổ chức xin thành lập trường thông qua đại diện của mình trong Hội đồng quản trị, tiếp tục cùng với Hội đồng quản trị và Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của trường. Trong trường hợp nhà trường hoạt động không theo đúng tôn chỉ mục đích thì tổ chức xin thành lập trường có quyền đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước xem xét, xử lý theo pháp luật.
Điều 11. Cơ cấu tổ chức của trường gồm:
Điều 12. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường hoạt động theo quy định tại Điều 51 của Luật Giáo dục.
Điều 13. Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường hoạt động theo quy định tại Điều 52 của Luật Giáo dục.
Điều 14. Hội đồng quản trị là tổ chức đại diện duy nhất quyền sở hữu tập thể nhà trường, có trách nhiệm và quyền tự chủ quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức, nhân sự và tài chính, tài sản của trường.
Điều 15. Số lượng thành viên Hội đồng quản trị tối thiểu là 7 người, trong đó có các thành phần sau:
Điều 16. Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng quản trị phải có quốc tịch Việt Nam, có trình độ từ đại học trở lên, có sức khỏe, khi được đề cử không quá 70 tuổi và ít nhất 50% số thành viên đã từng giảng dạy đại học hoặc tham gia quản lý giáo dục đại học.
Điều 17. Chủ tịch Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về các Nghị quyết của Hội đồng quản trị; chủ trì các hoạt động của Hội đồng quản trị và tổ chức kiểm soát việc điều hành của Hiệu trưởng. Các Nghị quyết của Hội đồng quản trị chỉ có hiệu lực khi được quá nửa số thành viên Hội đồng nhất trí. Chủ tịch Hội đồng quản trị được quyền sử dụng bộ máy tổ chức và con dấu của trường, các văn bản và Quyết định của Hội đồng quản trị phải do Chủ tịch Hội đồng quản trị ký.
Điều 18. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ và quyền hạn:
Điều 19. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là 5 năm, các thành viên của Hội đồng quản trị được quyền tái ứng cử. Hội đồng quản trị họp thường kỳ ít nhất ba tháng một lần. Các cuộc họp bất thường do Chủ tịch Hội đồng quản trị quyết định, khi có ít nhất 1/3 số thành viên của Hội đồng đề nghị.
Điều 20. Chủ tịch và thành viên của Hội đồng quản trị nhiệm kỳ đầu tiên do tổ chức xin thành lập trường đề cử, trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định công nhận.
Điều 21. Từ nhiệm kỳ thứ hai, việc thành lập Hội đồng quản trị được thực hiện theo nguyên tắc sau: ba tháng trước khi kết thúc nhiệm kỳ, Hội đồng quản trị căn cứ các quy định tại các điều 15, 16, 18 của Quy chế này, phải báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo về phương án, số lượng thành viên và cơ cấu của Hội đồng quản trị nhiệm kỳ tiếp theo. Ngoài các thành viên đương nhiên nêu tại các khoản 1, 4, 5 của Điều 15, các thành viên nêu ở khoản 2, Điều 15 do đại diện các nhà đầu tư về tài chính, tài sản để xây dựng trường bầu; các thành viên nêu ở khoản 3, Điều 15 do đại diện giảng viên, cán bộ và nhân viên cơ hữu bầu.
Điều 22. Trong nhiệm kỳ, nếu có yêu cầu đột xuất về việc bổ sung hoặc thay đổi thành viên Hội đồng quản trị, thì Hội đồng quản trị ra Nghị quyết, Chủ tịch Hội đồng quản trị trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định công nhận. Nếu thành viên cần thay đổi là Chủ tịch Hội đồng quản trị, thì Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức lấy ý kiến của tổ chức xin thành lập trường, từng thành viên Hội đồng quản trị và các tổ chức hữu quan trước khi quyết định công nhận.
Điều 23. Khi có đủ căn cứ về việc Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng các quy định của Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức xin thành lập trường, có quyền ra quyết định không công nhận Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị; quyết định thành lập Hội đồng quản trị lâm thời và cử Chủ tịch Hội đồng quản trị lâm thời. Trong thời hạn không quá một năm, Hội đồng quản trị lâm thời có trách nhiệm trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Hội đồng quản trị chính thức theo quy định tại Điều 21 của Quy chế này.
Điều 24. Hiệu trưởng trường đại học dân lập là người chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường. Hiệu trưởng do Hội đồng quản trị đề cử, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định công nhận. Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng theo nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị và không giữ chức vụ Hiệu trưởng quá hai nhiệm kỳ liên tiếp.
Điều 25. Hiệu trưởng là người điều hành hoạt động của trường, đại diện nhà trường trước xã hội và pháp luật, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Nhà nước về chất lượng đào tạo, về việc thực hiện các quy định, quy chế về giáo dục đào tạo và những hoạt động khác trong thẩm quyền được Hội đồng quản trị giao.
Điều 26. Hiệu trưởng trường đại học dân lập phải có chức danh từ Phó Giáo sư trở lên hoặc có học vị Tiến sĩ, có kinh nghiệm và năng lực quản lý giáo dục đại học, có uy tín trong ngành giáo dục, có phẩm chất đạo đức, có sức khỏe và khi được đề cử không quá 70 tuổi.
Điều 27. Hiệu trưởng có nhiệm vụ và quyền hạn:
Điều 28. Giúp việc Hiệu trưởng có các Phó Hiệu trưởng. Hiệu trưởng đề cử Phó Hiệu trưởng, Hội đồng quản trị phê duyệt, trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ra quyết định công nhận. Nhiệm kỳ của Phó Hiệu trưởng theo nhiệm kỳ của Hiệu trưởng.
Điều 29. Hội đồng khoa học và đào tạo do Hiệu trưởng quyết định thành lập để tư vấn cho Hiệu trưởng trong việc điều hành các hoạt động của trường.
Điều 30. Khi có đủ căn cứ về việc Hiệu trưởng vi phạm nghiêm trọng các quy định của Nhà nước, sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có quyền quyết định không công nhận Hiệu trưởng và bổ nhiệm người thay thế tạm thời, đồng thời yêu cầu Hội đồng quản trị đề cử Hiệu trưởng mới, trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định công nhận.
Điều 31. Trường đại học dân lập tuyển sinh và đào tạo công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và công dân nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam theo các quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 32. Trường đại học dân lập thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học, các dịch vụ tư vấn khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo của trường, theo quy định của pháp luật.
Điều 33. Việc xuất bản tập san, tạp chí, các ấn phẩm khoa học, tài liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường thực hiện theo đúng quy định của Luật Xuất bản và quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 34. Việc mời các giáo sư, các nhà khoa học, chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy và nghiên cứu khoa học; việc cử cán bộ tham quan, giảng dạy, học tập ở nước ngoài; cử sinh viên ra nước ngoài học tập thực hiện theo các quy định của Chính phủ.
Điều 35. Trường đại học dân lập được tự chủ về tài chính theo nguyên tắc tự cân đối thu chi, duy trì các hoạt động và phát triển nhà trường.
Điều 36. Tài sản của trường đại học dân lập gồm tài sản thuộc phần vốn góp của các nhà đầu tư và tài sản tăng thêm trong quá trình hoạt động. Tài sản của trường đại học dân lập sau khi trừ phần vốn góp của tập thể, cá nhân và phần chi phí cho các hoạt động của trường kể cả phần trả lãi vốn vay, vốn góp là tài sản không chia thuộc sở hữu tập thể nhà trường, được Nhà nước bảo vệ theo quy định của pháp luật, không ai được chiếm đoạt.
Điều 37. Nguồn thu của trường đại học dân lập gồm:
Điều 38. Các khoản chi của trường đại học dân lập gồm:
Điều 39. Tài sản và toàn bộ các hoạt động thu chi tài chính của trường đại học dân lập đều phải được quản lý và hạch toán, kế toán, quyết toán hàng quý và hàng năm theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 40. Hàng năm, trường lập dự toán thu, chi và mở sổ sách kế toán theo dõi thu, chi theo các nguồn vốn hình thành và tài sản nhà trường. Toàn bộ các khoản thu của trường phải phản ảnh tập trung vào tài khoản của trường tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước. Toàn bộ số tiền lãi từ tiền gửi phải được phản ảnh vào nguồn thu của trường.
Điều 41.
Điều 42. Hiệu trưởng là chủ tài khoản của trường, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về toàn bộ công tác quản lý tài chính, tài sản của trường.
Điều 43. Khi cần thanh lý tài sản, Hiệu trưởng thành lập Hội đồng định giá để xác định giá và phương thức thanh lý tài sản, trình Hội đồng quản trị duyệt.
Điều 44. Hội đồng quản trị tự xây dựng quy chế hoạt động về tài chính, quy định mức thu chi phù hợp với tình hình của nhà trường và các quy định của Nhà nước đối với các trường ngoài công lập báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính.
Điều 45. Hiệu trưởng trường đại học dân lập tuyển dụng giảng viên, cán bộ và nhân viên bằng hình thức hợp đồng lao động.
Điều 46. Giảng viên (cơ hữu và thỉnh giảng) của trường đại học dân lập phải có đủ các tiêu chuẩn đã quy định về phẩm chất, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ và sức khỏe; có nhiệm vụ và quyền theo quy định của pháp luật.
Điều 47. Giảng viên, cán bộ và nhân viên cơ hữu của trường đại học dân lập được hưởng chế độ tiền công, tiền lương hợp lý theo kết quả hoạt động của trường, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, được xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư, xét tặng các danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Huy chương "vì sự nghiệp giáo dục", có nhiệm vụ và quyền hạn của nhà giáo như quy định tại Mục 1, Chương IV của Luật Giáo dục.
Điều 48. Công dân Việt Nam có đủ các điều kiện theo Quy chế Tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định được đăng ký dự tuyển vào trường đại học dân lập.
Điều 49. Sinh viên trường đại học dân lập có các nhiệm vụ:
Điều 50. Sinh viên trường đại học dân lập có những quyền sau đây:
Điều 51. Trường đại học dân lập có trách nhiệm tổ chức thực hiện thường xuyên việc tự kiểm tra và thanh tra các hoạt động của nhà trường theo các quy định hiện hành.
Điều 52. Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện kiểm tra, thanh tra thường xuyên và đột xuất các hoạt động của trường đại học dân lập, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo và vi phạm theo Luật Khiếu nại tố cáo và Pháp lệnh Thanh tra.
Điều 53. Trường đại học dân lập không được cho phép bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào lợi dụng danh nghĩa, sử dụng cơ sở của nhà trường để tiến hành các hoạt động bất hợp pháp và thực hiện các hành vi thương mại hóa hoạt động giáo dục, vụ lợi, không đúng với tôn chỉ mục đích hoạt động của trường đại học dân lập.
Điều 54. Cá nhân và tập thể trường đại học dân lập có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáo dục được khen thưởng theo quy định của Nhà nước.
Điều 55. Trong trường hợp có đủ căn cứ về việc trường đại học dân lập không chấp hành đúng pháp luật, các quy chế, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; không bảo đảm chất lượng đào tạo; không bảo đảm yêu cầu tối thiểu về cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ việc giảng dạy học tập; không bảo đảm điều kiện vệ sinh và an toàn, thì tùy mức độ nặng nhẹ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm:
Điều 56. Trong trường hợp trường đại học dân lập không còn khả năng hoạt động, Hội đồng Quản trị có quyền xin phép được giải thể theo quy định của pháp luật.
Điều 57. Trường hợp trường đại học dân lập bị giải thể, Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm giải quyết các hậu quả theo quy định của pháp luật.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.