Căn cứ: Nghị định số 253/2026/NĐ-CP · Luật số 109/2025/QH15 · Thông tư số 87/2026/TT-BTC — xem văn bản gốc ↓
Quy tắc nằm ở Điều 50 khoản 2 Nghị định 253/2026/NĐ-CP (ký ngày 30/6/2026, quy định chi tiết Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15). Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao hay khoản chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng — kể cả khoản trả cho người đã nghỉ việc — mà mức trả từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả. Mức trả dưới 05 triệu đồng/lần thì nơi trả "được" khấu trừ 10% khi cá nhân có yêu cầu — tức là không bắt buộc, và không tự ý khấu trừ.
Mốc cũ là 2 triệu đồng/lần, theo Điều 25 khoản 1 điểm i Thông tư 111/2013/TT-BTC. Thông tư này đã được thay thế bởi Thông tư 87/2026/TT-BTC (Điều 6 khoản 2). Về thời gian: Nghị định 253/2026 có hiệu lực từ 01/7/2026, nhưng các quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 (Điều 69 khoản 1 điểm a), cùng mốc với Luật 109/2025/QH15 (Điều 29 khoản 2). Khoản đã khai, nộp theo quy định cũ từ 01/01/2026 đến trước 01/7/2026 thì không phải nộp lại tờ khai tháng, quý mà được điều chỉnh khi quyết toán thuế năm 2026 (Nghị định 253/2026, Điều 70 khoản 2).
Khoản 10% áp dụng theo loại hợp đồng, không theo tên gọi công việc. Người làm thời vụ, cộng tác viên, người nhận thù lao từng lần, và người thực tập hay thử việc chưa ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thuộc khoản 2 nói trên. Người ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì nơi trả khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần (Điều 50 khoản 1), sau khi trừ giảm trừ gia cảnh — 15,5 triệu đồng/tháng cho bản thân và 6,2 triệu đồng/tháng cho mỗi người phụ thuộc (Luật 109/2025/QH15, Điều 10 khoản 1). Vì vậy người ký hợp đồng một năm, lương 4 triệu đồng/tháng, không bị khấu trừ 10% và không phát sinh thuế.
Người chỉ có thu nhập thuộc diện khấu trừ 10% mà ước tính tổng thu nhập chịu thuế sau giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế có thể làm bản cam kết (theo mẫu của văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi nơi trả thu nhập để tạm thời chưa bị khấu trừ. Người cam kết chịu trách nhiệm về bản cam kết; gian lận bị xử lý theo pháp luật quản lý thuế. Nơi trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách, thu nhập của những người này nộp cơ quan thuế khi hết năm (Điều 50 khoản 2).
Tiền đã bị khấu trừ không mất: đó là thuế nộp trước. Khi quyết toán năm, số đã khấu trừ được trừ vào số thuế phải nộp; nộp thừa thì được hoàn hoặc bù trừ nếu có yêu cầu. Không phải quyết toán khi số thuế phải nộp nhỏ hơn số đã nộp và không đề nghị hoàn, hoặc khi thu nhập thêm ở nơi khác bình quân không quá 15 triệu đồng/tháng đã bị khấu trừ 10% (Nghị định 253/2026, Điều 51 khoản 1).
Trả lời chính thức trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (chinhsachonline.chinhphu.vn). Tóm tắt do vandap viết; bấm vào câu hỏi để đọc nguyên văn tại nguồn.
Theo Điều 50 khoản 2 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, khoản trả cho người không ký hợp đồng lao động, ký dưới 3 tháng hoặc đã nghỉ việc được khấu trừ 10% khi từ 05 triệu đồng/lần trở lên; người ký hợp đồng từ 3 tháng trở lên được khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Người ký hợp đồng lao động một năm, lương 4 triệu đồng/tháng, không thuộc diện khấu trừ 10% và không phải nộp thuế sau giảm trừ gia cảnh. Câu trả lời viết trước Nghị định 253/2026, dựa trên Thông tư 111/2013 (mốc 2 triệu đồng/lần) và mức giảm trừ 11 triệu đồng — nay là 5 triệu đồng/lần và 15,5 triệu đồng; kết luận cho trường hợp này không đổi.
Văn bản gốc do cơ quan nhà nước công bố. Nội dung trên trang này là tóm tắt của vandap — đối chiếu điều, khoản được viện dẫn trong văn bản gốc trước khi áp dụng.