Căn cứ: Luật số 109/2025/QH15 · Nghị định số 253/2026/NĐ-CP · Bộ luật số 45/2019/QH14 · Nghị định số 145/2020/NĐ-CP — xem văn bản gốc ↓
Quy định mới: Luật Thuế TNCN 109/2025/QH15, Điều 4 khoản 8 miễn thuế cho "tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật". Nghị định 253/2026/NĐ-CP, Điều 26 khoản 1 chi tiết: miễn thuế với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động; khoản 3: phần vượt mức quy định của pháp luật tính vào thu nhập chịu thuế. Luật áp dụng từ ngày 01/7/2026, riêng thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 (Luật 109/2025, Điều 29 khoản 2; Nghị định 253/2026, Điều 69 khoản 1 điểm a) — tức cả các tháng đầu năm 2026 khi quyết toán.
Khác gì quy định cũ: Thông tư 111/2013/TT-BTC, Điều 3 khoản 1 điểm i chỉ miễn "phần tiền lương … trả cao hơn" so với giờ làm việc bình thường. Ví dụ tiền lương giờ 40.000 đồng, làm thêm 10 giờ vào ngày thường ở mức 150%: nhận 600.000 đồng; theo quy định cũ chỉ 200.000 đồng (phần chênh lệch) được miễn, 400.000 đồng tính thuế; theo Điều 26 Nghị định 253/2026, khoản 600.000 đồng là tiền lương làm thêm giờ được miễn thuế.
Mức trả theo luật lao động (để biết "mức quy định"): làm thêm vào ngày thường ít nhất 150%, ngày nghỉ hằng tuần ít nhất 200%, ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương ít nhất 300% (Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, Điều 98 khoản 1); làm việc ban đêm (22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, Điều 106) được trả thêm ít nhất 30%, làm thêm giờ vào ban đêm trả thêm 20% nữa (Điều 98 khoản 2, 3). Cách tính tiền lương giờ làm căn cứ ở Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Điều 55 khoản 1 điểm a (không gồm tiền làm thêm, tiền thưởng, tiền ăn giữa ca, hỗ trợ xăng xe, điện thoại …). Làm thêm vào ngày nghỉ bù (ngày nghỉ hằng tuần trùng ngày lễ) được trả như làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần, không phải mức ngày lễ (Điều 55 khoản 3).
Giới hạn giờ làm thêm (Bộ luật Lao động, Điều 107 khoản 2): phải được người lao động đồng ý; không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong ngày (nếu tính theo tuần thì giờ làm bình thường cộng giờ làm thêm không quá 12 giờ/ngày); không quá 40 giờ/tháng; không quá 200 giờ/năm. Một số ngành, trường hợp (dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, thủy sản; điện, viễn thông, lọc dầu, cấp thoát nước; việc cấp bách …) được tới 300 giờ/năm và người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 107 khoản 3, 4; Nghị định 145/2020, Điều 62: chậm nhất 15 ngày, Mẫu số 02/PLIV); làm thêm trong khu công nghệ cao thì thông báo cả Ban quản lý khu công nghệ cao (Điều 62 khoản 4, do Nghị định 10/2024/NĐ-CP, Điều 49 khoản 3 bổ sung). Giới hạn 40 giờ/tháng và 200 giờ/năm phải bảo đảm cùng lúc.
Điểm Nghị định chưa nói rõ: Điều 26 miễn thuế cho tiền làm thêm "phù hợp với quy định về điều kiện và thời gian theo pháp luật về lao động", nhưng không nói riêng về giờ làm thêm vượt 40 giờ/tháng, về khoản doanh nghiệp tự trả trên mức tối thiểu (ví dụ 180% thay vì 150%), hay về người làm ca đêm cố định trong giờ làm việc bình thường. Thuế TP. Đà Nẵng (16/7/2026) đọc mức được miễn theo công thức của Nghị định 145/2020 (Điều 55, 56, 67) và tính thuế phần nhận cao hơn; đó là cách đọc của cơ quan thuế địa phương, không phải hướng dẫn chung của Bộ Tài chính.
Tiền những ngày chưa nghỉ phép: được miễn thuế khi trả theo Bộ luật Lao động, Điều 113 khoản 3 — tức khi thôi việc, mất việc làm mà chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết phép năm (Nghị định 253/2026, Điều 26 khoản 2). Tiền lương làm căn cứ là tiền lương theo hợp đồng của tháng trước liền kề tháng thôi việc (Nghị định 145/2020, Điều 67 khoản 3). Khoản trả cho phép năm chưa nghỉ khi vẫn đang làm việc không thuộc khoản 3 Điều 113.
Hồ sơ của doanh nghiệp: lập bảng kê ghi rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ và tiền lương đã trả cho từng khoản, lưu tại doanh nghiệp, xuất trình khi cơ quan thuế yêu cầu; không lập bảng kê riêng thì phải chứng minh bằng bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và tài liệu hợp pháp khác (Nghị định 253/2026, Điều 26 khoản 1).
Trả lời chính thức trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (chinhsachonline.chinhphu.vn). Tóm tắt do vandap viết; bấm vào câu hỏi để đọc nguyên văn tại nguồn.
Trả lời theo Nghị định 253/2026, Điều 26 và Điều 69: từ kỳ tính thuế năm 2026, tiền lương, tiền công làm việc ban đêm (22 giờ đến 06 giờ), làm thêm giờ tại nơi làm việc phù hợp với điều kiện và thời gian theo pháp luật lao động được miễn thuế TNCN; tiền những ngày chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết phép năm khi thôi việc, mất việc (Bộ luật Lao động, Điều 113 khoản 3) cũng được miễn. Mức được miễn xác định theo Bộ luật Lao động và Nghị định 145/2020, Điều 55, 56, 67; phần nhận cao hơn mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế.
Câu hỏi: người lao động làm thêm 45 giờ trong một tháng nhưng tổng cả năm chưa tới 200 giờ thì có vượt giới hạn không. Trả lời: giới hạn không quá 40 giờ/tháng và không quá 200 giờ/năm (Bộ luật Lao động, Điều 107 khoản 2 điểm b, c) là hai điều kiện phải bảo đảm đồng thời; làm thêm 45 giờ trong tháng là vượt giới hạn tháng, dù tổng năm chưa vượt 200 giờ.
Câu hỏi về tiền lương khi đi làm ngày 02/01/2026. Trả lời: người sử dụng lao động sắp xếp ngày nghỉ hằng tuần và ghi trong nội quy lao động (Bộ luật Lao động, Điều 111 khoản 2); ngày nghỉ hằng tuần trùng ngày lễ thì được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp. Làm thêm giờ vào ngày lễ trùng ngày nghỉ hằng tuần được trả mức ngày lễ; làm thêm vào ngày nghỉ bù được trả mức ngày nghỉ hằng tuần (Nghị định 145/2020, Điều 55 khoản 3). Câu hỏi không đủ thông tin về ngày nghỉ hằng tuần nên cơ quan đề nghị đối chiếu nội quy lao động của doanh nghiệp.
Văn bản gốc do cơ quan nhà nước công bố. Nội dung trên trang này là tóm tắt của vandap — đối chiếu điều, khoản được viện dẫn trong văn bản gốc trước khi áp dụng.