Nghị định · Chính phủ
Nghị định 01/2016/NĐ-CP
Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Tình trạng
- Hết hiệu lực
- Ngày ban hành
- 05/01/2016
- Ngày có hiệu lực
- 20/02/2016
- Hết hiệu lực
- 20/09/2020
Hết hiệu lực từ 20/09/2020 theo điều khoản hiệu lực của 89/2020/NĐ-CP: “Nghị định số 01/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.”
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vnVăn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (2)
- 89/2020/NĐ-CP (20/09/2020)
- 72/2017/NĐ-CP — Quy định về nội dung chi hoạt động của Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam (13/06/2017)
Thay thế / bãi bỏ (1)
- 05/2014/NĐ-CP — Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (17/01/2014)
Hướng dẫn thi hành (10)
- 76/2015/QH13 — Tổ chức Chính phủ (19/06/2015)
- 58/2014/QH13 — Bảo hiểm xã hội (20/11/2014)
- 46/2014/QH13 — Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (13/06/2014)
- 38/2013/QH13 — Việc làm (16/11/2013)
- 25/2008/QH12 — Bảo hiểm y tế (14/11/2008)
- 76/2015/QH13 — Tổ chức Chính phủ (19/06/2015)
- 58/2014/QH13 — Bảo hiểm xã hội (20/11/2014)
- 46/2014/QH13 — Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (13/06/2014)
- 38/2013/QH13 — Việc làm (16/11/2013)
- 25/2008/QH12 — Bảo hiểm y tế (14/11/2008)
Bố cục (11 điều)
Điều 1. Vị trí và chức năng Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn Điều 3. Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam Điều 4. Chế độ làm việc của Hội đồng quản lý Điều 5. Tổng Giám đốc Điều 6. Hệ thống tổ chức Điều 7. Cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ở trung ương Điều 8. Bảo hiểm xã hội tỉnh Điều 9. Bảo hiểm xã hội huyện Điều 10. Hiệu lực thi hành Điều 11. Trách nhiệm thi hành
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.