Quyết định · Bộ Tài chính

Quyết định 1766/1998/QĐ-BTC

Của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành "Quy chế quản lý và xử lý tài sản khi có quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước"

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
07/12/1998
Ngày có hiệu lực
22/12/1998
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (8)

Thay thế / bãi bỏ (1)

Hướng dẫn thi hành (12)

Bố cục (31 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế quản lý và xử lý tài sản khi có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước".
Điều 2. Quyết định này thay thế Quyết định số 100 TC/QLCS ngày 23/1/1997 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 3. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị liên quan tổ chức thực hiện Quy chế này.
Điều 1. Các tài sản được quản lý và xử lý theo Quy chế này bao gồm các loại sau:
Điều 2. Các loại tài sản không thuộc đối tượng điều chỉnh của Quy chế này bao gồm: Tài sản kê biên, tài sản tạm giữ, tài sản cầm giữ hàng hải, tài sản vô thừa nhận của ngành bưu điện, tài sản tồn đọng tại các cảng biển, cảng hàng không, tài sản là vật chứng vụ án chưa có quyết định sung quỹ Nhà nước và các loại tài sản theo quy định riêng của pháp luật.
Điều 3. Các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tài sản sung quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền ở hữu Nhà nước đối với các tài sản nêu ở Điều 1 Quy chế này (sau đây gọi chung là cơ quan ra quyết định) bao gồm:
Điều 4. Mọi tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước (sau đây gọi chung là tài sản sung quỹ Nhà nước) quy định tại Điều 1 của Quy chế này được quản lý thống nhất theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 5. Khi chuyển giao tài sản sung quỹ Nhà nước, cơ quan ra quyết định hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định căn cứ vào quy định của Nhà nước, tính chất của tài sản và nội dung của Quyết định, thực hiện chuyển giao tài sản và các giấy tờ liên quan đến tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 8 và Khoản 3 Điều 9 của Quy chế này cho cơ quan tài chính theo nguyên tắc sau:
Điều 6. Việc chuyển giao tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước cho cơ quan tài chính, Kho bạc Nhà nước, cũng như giao cho cơ quan Nhà nước quản lý, sử dụng tài sản đó theo quy định tại Khoản 3, 4, 5, 6 Điều 8 và Khoản 2, 3, 4 Điều 9 của Quy chế này đều phải lập biên bản giao nhận theo mẫu "Biên bản giao nhận tài sản sung quỹ Nhà nước" ban hành kèm theo Quy chế này (mẫu biểu số 1).
Điều 7. Các cơ quan ra quyết định hoặc cơ quan trình cấp có thẩm quyền ra quyết định tịch thu tài sản sung quỹ Nhà nước và tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước có trách nhiệm bảo quản tài sản cho đến khi chuyển giao tài sản cho cơ quan tài chính tiếp nhận, bảo quản hoặc tiếp tục bảo quản tài sản đó theo uỷ quyền của cơ quan tài chính cho tới khi hoàn tất việc xử lý, đồng thời phối hợp với cơ quan tài chính tổ chức bán đấu giá những tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước.
Điều 8. Việc xử lý đối với tài sản có quyết định tịch thu sung quỹ Nhà nước được thực hiện như sau:
Điều 9. Việc xử lý tài sản có quyết định xác lập quyền sở hữu Nhà nước được thực hiện như sau:
Điều 10. Việc quản lý, xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước của cơ quan tài chính Nhà nước được thực hiện như sau:
Điều 11. Trong thời hạn không quá 30 ngày (đối với tài sản là hàng hoá tiêu dùng thông thường), 60 ngày (đối với tài sản là ô tô, xe máy, tàu thuyền, máy móc, thiết bị chuyên dùng...) kể từ ngày tiếp nhận các tài sản này, cơ quan tài chính phải trình UBND cấp tỉnh ra quyết định thành lập Hội đồng định giá bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá số tài sản đó.
Điều 12. Căn cứ Điều 13 của Quy chế bán đấu giá tài sản ban hành kèm theo Nghị định số 86/CP ngày 19 tháng 12 năm 1996 của Chính phủ và Điều 20 của Nghị định số 14/1998 NĐ-CP ngày 06/03/1998 của Chính phủ về Quản lý tài sản Nhà nước và các quy định hiện hành khác của Nhà nước và tuỳ theo từng loại tài sản sung quỹ Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng bán đấu giá quy định cụ thể đối tượng được tham gia mua tài sản bán đấu giá cho từng cuộc bán tài sản sung quỹ Nhà nước, cụ thể:
Điều 13. Việc bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp, công khai, trung thực, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
Điều 14. Trình tự, thủ tục bán đấu giá được thực hiện như sau:
Điều 15. Hội đồng định giá bán đấu giá tài sản sung quỹ Nhà nước có các nghĩa vụ sau đây:
Điều 16. Hội đồng định giá bán đấu giá có quyền:
Điều 17. Đối với tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá:
Điều 18.
Điều 19.
Điều 20.
Điều 21. Phòng Tài chính huyện, Sở Tài chính - Vật giá, Cuc Quản lý công sản (Bộ Tài chính) có trách nhiệm giúp UBND các cấp và Bộ trưởng Bộ Tài chính trong quản lý các khoản thu, chi có liên quan đến việc xử lý tài sản tịch thu và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo đúng Quy chế này và các văn bản hướng dẫn của Nhà nước.
Điều 22. Cơ quan ra quyết định và cơ quan trực tiếp quản lý, xử lý, bán các tài sản tịch thu và tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước không thực hiện đúng hoặc cố tình vi phạm các quy định của Quy chế này đều phải được xử lý nghiêm minh đúng pháp luật.
Điều 23. Cơ quan, cá nhân có trách nhiệm quản lý và tổ chức xử lý tài sản sung quỹ Nhà nước, tài sản xác lập quyền sở hữu Nhà nước nếu cố tình làm thiệt hại, thất thoát tài sản về hiện vật hoặc giá trị đều phải bồi thường vật chất và tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy tố trước Pháp luật.
Điều 1. Hàng hoá - Giá cả
Điều 2. Quy cách - Chất lượng
Điều 3. Thời gian - Địa điểm giao nhận
Điều 4. Thủ tục thanh toán
Điều 5. Thời hiệu hợp đồng

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.