Thông tư · Bộ Giao thông vận tải

Thông tư 19/2018/TT-BGTVT

Quy định về tiêu chuẩn Đăng kiểm viên đường sắt và yêu cầu đối với cơ sở vật chất, kỹ thuật của tổ chức đăng kiểm đường sắt

Tình trạng
Hết hiệu lực
Ngày ban hành
19/04/2018
Ngày có hiệu lực
01/07/2018
Hết hiệu lực
01/01/2026

Hết hiệu lực từ 01/01/2026 theo điều khoản hiệu lực của 33/2025/TT-BXD: “2. Các văn bản, quy định sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành: Thông tư số 19/2018/TT-BGTVT ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định về tiêu chuẩn đăng kiểm viên đường sắt và yêu cầu đối với cơ sở vật chất, kỹ thuật của tổ chức đăng kiểm đường sắt;”

Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (4)

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Thay thế / bãi bỏ (1)

Hướng dẫn thi hành (3)

Bố cục (16 điều)

Chương I — QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
  Điều 2. Đối tượng áp dụng
  Điều 3. Đăng kiểm viên đường sắt
Chương II — TIÊU CHUẨN, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ
  Điều 4. Tiêu chuẩn của Đăng kiểm viên đường sắt
  Điều 5. Nhiệm vụ của Đăng kiểm viên đường sắt
  Điều 6. Quyền hạn của Đăng kiểm viên đường sắt
  Điều 7. Trách nhiệm của Đăng kiểm viên đường sắt
Chương III — TẬP HUẤN NGHIỆP VỤ, CÔNG NHẬN
  Điều 8. Tập huấn nghiệp vụ
  Điều 9. Chương trình tập huấn nghiệp vụ Đăng kiểm viên đường sắt
  Điều 10. Đánh giá, công nhận, công nhận lại và thu hồi Quyết định công nhận Đăng kiểm viên đường sắt
Chương IV — CƠ SỞ VẬT CHẤT, KỸ THUẬT
  Điều 11. Trụ sở làm việc của tổ chức đăng kiểm đường sắt
  Điều 12. Trang thiết bị kỹ thuật của tổ chức đăng kiểm đường sắt
Chương V — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
  Điều 13. Hiệu lực thi hành
  Điều 14. Quy định chuyển tiếp
  Điều 15. Điều khoản tham chiếu
  Điều 16. Trách nhiệm thi hành

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.