Quyết định · Bộ Y tế

Quyết định 992/2003/QĐ-BYT

Về việc ban hành bản Quy định việc quản lý tài chính đối với nguồn viện trợ không hoàn lại thuộc Bộ Y tế

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
26/03/2003
Ngày có hiệu lực
10/04/2003
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Thay thế / bãi bỏ (1)

Hướng dẫn thi hành (6)

Bố cục (45 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này: Quy định việc quản lý tài chính đối với nguồn viện trợ không hoàn lại thuộc Bộ Y tế”.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 1837/2000/QĐ-BYT ngày 13/6/2000 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc: “Quy định việc quản lý tài chính đối với nguồn viện trợ không hoàn lại thuộc Bộ Y tế”.
Điều 3. Các Ông, Bà: Chánh Văn phòng, Chánh Thanh tra, Vụ trưởng các Vụ thuộc Bộ Y tế, Cục trưởng Cục quản lý Dược Việt Nam, Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, Trưởng ban Ban quản lý các dự án Bộ Y tế, Chủ nhiệm các chương trình, dự án, Văn phòng thường trực phòng chống AIDS, Ban 10-80 và Thủ trưởng các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế có nguồn viện trợ không hoàn lại chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Quy định này áp dụng đối với các nguồn viện trợ không hoàn lại của
  Điều 2. Trong Quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
  Điều 3. Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức viện trợ được Chính phủ giao cho Bộ Y tế quản lý và thực hiện là nguồn thu của Ngân sách Nhà nước, (NSNN) được quản lý và thực hiện theo Luật NSNN và các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài chính, ngân sách. Trường hợp trong Điều ước quốc tế có quy định khác, các đơn vị thực hiện dự án được thực hiện theo Điều ước quốc tế đó.
  Điều 4. Các Đơn vị thực hiện dự án chỉ được tiếp nhận nguồn viện trợ không hoàn lại sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định, phải sử dụng viện trợ đúng nội dung, mục tiêu đã cam kết, không được sử dụng viện trợ vào bất kỳ mục đích nào khác.
  Điều 5. Bộ Y tế tập trung quản lý các khoản viện trợ bằng tiền (ngoại tệ hoặc tiền đồng Việt Nam) thông qua tài khoản của Bộ Y tế. (Trừ những Đơn vị thực hiện dự án theo Điều ước quốc tế phải mở tài khoản riêng).
  Điều 6. Trường hợp các Đơn vị thực hiện dự án trực tiếp nhận tiền mặt hoặc séc phải báo cáo ngay với Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán, Vụ Kế hoạch) để được hướng dẫn tiếp nhận và sử dụng.
  Điều 7. Việc quản lý, chi tiêu tiền viện trợ không hoàn lại của các Đơn vị thực hiện dự án phải được thực hiện tại đơn vị HCSN trực thuộc Bộ, có tư cách pháp nhân (nếu đơn vị HCSN trực thuộc Bộ được quyết định làm Chủ dự án). Đối với các Đơn vị thực hiện dự án do các Vụ, Ban, Thanh tra trong cơ quan Bộ Y tế trực tiếp quản lý và tổ chức thực hiện, việc quản lý chi tiêu  và quyết toán phải thông qua Ban Quản lý các dự án-Bộ Y tế.
  Điều 8. Đối với viện trợ không hoàn lại bằng tiền, hiện vật, các Đơn vị thực hiện dự án đều phải làm thủ tục xác nhận viện trợ. Giấy xác nhận tiền, hàng viện trợ là căn cứ để hoàn tất các thủ tục nhận tiền, hàng và là một trong những căn cứ để Bộ Tài chính ghi thu, ghi chi Ngân sách Nhà nước cho Đơn vị thực hiện dự án (trừ một số dự án có quy định riêng biệt).
  Điều 9. Thủ trưởng các Đơn vị thực hiện dự án và tham gia dự án trực tiếp sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Y tế về việc thực hiện đúng các mục tiêu, nội dung của dự án đã cam kết trong hồ sơ, văn kiện của dự án đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc quản lý chi tiêu nguồn viện trợ.
Chương II — LẬP DỰ TOÁN CHI DỰ ÁN
  Điều 10. Đầu tháng 7 hàng năm, cùng với việc lập dự toán Ngân sách Nhà nước cho năm tiếp theo, các dự án đang hoạt động phải căn cứ vào hướng dẫn lập dự toán Ngân sách Nhà nước của Bộ Y tế, văn kiện dự án được phê duyệt và các văn bản phê duyệt điều chỉnh dự án (nếu có) để lập dự toán Ngân sách viện trợ. Dự toán Ngân sách của viện trợ phải thể hiện được tình hình thu, chi về viện trợ, vốn đối ứng (nếu có) phân tích theo mục đích sử dụng (XDCB, HCSN) và thuyết minh chi tiết đính kèm. Dự toán được gửi về Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán, Vụ Kế hoạch) để tổng hợp chung dự toán Ngân sách của Bộ gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội phê duyệt.
Chương III — XÁC NHẬN VIỆN TRỢ
  Điều 11. Tất cả các Đơn vị thực hiện dự án được nhận viện trợ đều phải làm xác nhận viện trợ, bao gồm:
  Điều 12. Các tài liệu cần thiết để làm thủ tục xác nhận viện trợ:
  Điều 13. Đối với tiền, hàng thuộc nguồn cứu trợ khẩn cấp cho Ngành Y tế đã có địa chỉ cụ thể, đơn vị được Bộ Y tế giao làm đầu mối tiếp nhận phải khẩn trương đề nghị Vụ Kế hoạch trình Bộ trưởng phê duyệt và làm thủ tục chuyển tiền, hàng đến địa chỉ ghi trong văn bản viện trợ. Nghiêm cấm những hành vi gây cản trở hoặc làm trì trệ việc chuyển tiền, hàng thuộc nguồn cứu trợ khẩn cấp này. Khi hoàn tất công việc, đơn vị được giao là đầu mối tập hợp hồ sơ gửi Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán) để làm thủ tục đề nghị Bộ Tài chính ghi thu, ghi chi cho đơn vị thụ hưởng.
  Điều 14. Khi có thông báo nhận hàng, tiền viện trợ, các Đơn vị thực hiện dự án có trách nhiệm làm tờ khai xác nhận viện trợ.
  Điều 15. Các nguồn tiền, hàng dưới đây không phải làm xác nhận viện trợ:
Chương IV — HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
  Điều 16. Sau khi hoàn tất thủ tục nhận hàng, tiền viện trợ các Đơn vị thực hiện dự án phải phản ánh kịp thời, đầy đủ các nguồn tiền, hàng đã nhận (cả về lượng và giá trị thành tiền) trên chứng từ và sổ sách kế toán theo đúng quy định của Quyết định số 999/TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Quyết định số 144 BYT-QĐ ngày 31/01/1997 của Bộ trưởng
  Điều 17. Hạch toán tiền, hàng viện trợ: Căn cứ để hạch toán vào sổ sách kế toán của Đơn vị thực hiện dự án là tiền đồng Việt Nam và trị giá ngoại tệ đã được Bộ Tài chính xác nhận là viện trợ không hoàn lại được quy đổi thành tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá do Bộ Tài chính công bố trong từng thời điểm (Trừ trường hợp nhà tài trợ đã quy định tỷ giá) theo từng khoản, mục, quy định của Mục lục NSNN.
  Điều 18. Các nguồn thu khác trong quá trình thực hiện:
Chương V — CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG TIỀN VIỆN TRỢ
  Điều 19. Khi rút tiền về để chi cho các hoạt động, Đơn vị thực hiện dự án phải có giấy đề nghị chuyển tiền theo mẫu số 4 ban hành kèm theo Quy định này gửi Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán) và kèm theo các hồ sơ liên quan sau:
  Điều 20. Trong 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được bộ hồ sơ đầy đủ, Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán) sẽ chuyển số tiền đồng Việt Nam vào tài khoản tại kho bạc của Đơn vị thực hiện dự án để triển khai hoạt động theo đúng khoản, mục đã được Bộ Tài chính xác nhận trên giấy xác nhận tiền viện trợ. Riêng các Đơn vị thực hiện dự án do các Vụ, Thanh tra Y tế trong cơ quan Bộ Y tế trực tiếp quản lý và tổ chức thực hiện, kinh phí của Đơn vị thực hiện dự án được chuyển về tài khoản của Ban quản lý các dự án Bộ Y tế.
  Điều 21. Đối với các dự án mà theo Điều ước quốc tế được mở tài khoản riêng tại Ngân hàng, Đơn vị thực hiện dự án được sử dụng lãi tiền gửi theo đúng cam kết với cơ quan tài trợ. Trường hợp khoản lãi tiền gửi không quy định trong văn kiện dự án hoặc có quy định nhưng dự án đã kết thúc mà số dư lãi tiền gửi viện trợ chưa sử dụng hết thì tất cả số lãi tiền gửi viện trợ là nguồn của Ngân sách Nhà nước. Khi tổng quyết toán dự án đã kết thúc được duyệt, Đơn vị thực hiện dự án phải nộp số lãi tiền gửi đó vào NSNN.
  Điều 22. Trường hợp đơn vị thực hiện dự án sử dụng ngân sách của dự án để trả lương cho cán bộ Việt Nam tham gia quản lý, thực hiện chương trình, dự án viện trợ, người được hưởng lương phải có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập (nếu đến mức phải nộp thuế) theo quy định của Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập cao. Đơn vị trả lương có nghĩa vụ thu lại phần thuế thu nhập phải nộp trước khi thanh toán lương cho người được hưởng.
  Điều 23. Các dự án trong cơ cấu vốn có một phần quỹ tín dụng để quay vòng như cho vay để cải thiện điều kiện dinh dưỡng, xoá đói giảm nghèo... việc xác định lãi suất, phân phối và sử dụng tiền lãi thực hiện như sau:
  Điều 24. Sử dụng ngoại tệ:
  Điều 25. Tất cả các hoạt động chi tiêu từ nguồn tiền viện trợ phải có dự toán cụ thể trên cơ sở dự toán hàng năm đã được duyệt và căn cứ vào các mục tiêu đã được cơ quan tài trợ chấp thuận, các Đơn vị thực hiện dự án không được chi vượt mức đã thoả thuận với tổ chức viện trợ.
  Điều 26. Các đơn vị thực hiện dự án và tham gia dự án sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại, nguồn viện trợ nhân đạo để nhập khẩu hàng hoá, vật tư việc xin miễn thuế nhập khẩu thực hiện theo quy định tại mục I, điểm 3, Mục II Phần D Thông tư số 172/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 của Bộ Tài chính về miễn thuế nhập khẩu.
  Điều 27. Trong quá trình hoạt động, nếu phát sinh yêu cầu phải điều chỉnh ngân sách (từ hoạt động này sang hoạt động khác) nhưng vẫn nằm trong kế hoạch ngân sách tổng thể của dự án hoặc điều chỉnh tăng thêm cho dự án, Đơn vị thực hiện dự án phải thoả thuận với tổ chức viện trợ và báo cáo với Bộ Y tế (Vụ Kế hoạch) để tổng hợp và trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
  Điều 28. Các Đơn vị thực hiện dự án không được Nhà nước cấp vốn đối ứng (dự án đang hoạt động) và hồ sơ dự án không có mục chi cho công tác quản lý, Đơn vị thực hiện dự án phải huy động nguồn nội lực sẵn có (cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực) và tự thu xếp trong ngân sách viện trợ, chi tiêu tiết kiệm để chi cho công việc quản lý dự án nhưng không được làm ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự án. Các khoản tiền tiết kiệm được, Đơn vị thực hiện dự án phải căn cứ vào định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước để lập dự toán chi cụ thể cho từng công việc gửi Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán) phê duyệt.
  Điều 29. Các Đơn vị thực hiện dự án sử dụng tiền viện trợ để mua sắm, sửa chữa nâng cấp trang thiết bị, xây dựng, phải thực hiện theo đúng Quy chế đấu thầu hiện hành của Nhà nước, (trừ trường hợp Điều ước quốc tế có quy định khác). Các Đơn vị thực hiện dự án không được tách nhỏ gói thầu mua sắm trang thiết bị, xây dựng, sửa chữa nâng cấp tài sản cố định để bỏ qua công đoạn đấu thầu.
  Điều 30. Khi đàm phán với cơ quan tài trợ để vận động viện trợ, các đơn vị phải thông báo đầy đủ nội dung, địa chỉ và mã số của Bộ Y tế, tài khoản, Ngân hàng và mã số của Ngân hàng nơi Bộ Y tế mở tài khoản, tên cơ quan được hưởng (có thông báo riêng) để cơ quan tài trợ chuyển tiền. Trường hợp các thông tin ghi trên lệnh chuyển tiền hoặc séc, không xác định rõ đơn vị thụ hưởng, Bộ Y tế sẽ thông báo đến các chương trình, dự án, đơn vị để bổ sung tài liệu chứng minh quyền sử dụng nguồn tiền ghi trong thông báo. Trong vòng 45 ngày kể từ ngày Bộ Y tế thông báo, nếu đơn vị thụ hưởng không có đủ tài liệu chứng minh quyền sử dụng số tiền đó, Bộ Y tế sẽ báo cáo các cơ quan có thẩm quyền và có biện pháp xử lý.
Chương VI — CHẾ ĐỘ BÁO CÁO, QUYẾT TOÁN VÀ BÀN GIAO TÀI SẢN
  Điều 31. Hàng quý và cả năm, Thủ trưởng các Đơn vị thực hiện dự án trực tiếp sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại phải lập báo cáo tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn viện trợ gửi về Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán, Vụ Kế hoạch). Riêng báo cáo của các Đơn vị thực hiện dự án do Ban Quản lý các dự án Bộ Y tế quản lý và cấp phát kinh phí, gửi về Ban để tổng hợp gửi Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán, Vụ Kế hoạch) theo mẫu số 5 ban hành kèm theo Quy định này. Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán) tổng hợp toàn bộ tình hình tiếp nhận và sử dụng viện trợ thuộc phạm vi quản lý gửi Bộ Tài chính.
  Điều 32. Hồ sơ, sổ sách, chứng từ kế toán của dự án phải được xắp xếp theo trình tự phát sinh và lưu trữ theo quy định của pháp luật.
  Điều 33. Quyết toán năm: Căn cứ vào hướng dẫn khoá sổ kế toán cuối năm về lập báo cáo quyết toán thu, chi Ngân sách Nhà nước của Bộ trưởng Bộ Tài chính và hướng dẫn của Bộ Y tế, các Đơn vị thực hiện dự án có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán viện trợ cụ thể như sau:
  Điều 34. Đối với những dự án đang hoạt động, số dư trên tài khoản tại thời điểm cuối năm ngân sách được chuyển sang năm sau để thực hiện tiếp (trừ vốn đối ứng trên tài khoản hạn mức).
  Điều 35. Khi kết thúc dự án, Thủ trưởng Đơn vị thực hiện dự án có trách nhiệm lập báo cáo quyết toán việc tiếp nhận và sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại, quyết toán các khoản vốn đối ứng (nếu có) và các khoản thu khác như: tiền bán bao bì, lãi tiền gửi ngân hàng (đối với dự án theo Điều ước quốc tế được mở tài khoản riêng tại ngân hàng), tiền bán hồ sơ thầu, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng... theo từng khoản, mục, tiểu mục đã được cơ quan quản lý trực tiếp chuyển tiền và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
  Điều 36. Quyết toán dự án sau khi đã được cơ quan kiểm toán xác nhận (nếu có), Thủ trưởng Đơn vị thực hiện dự án có trách nhiệm gửi về Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán) để thẩm tra phê duyệt. Riêng các Đơn vị thực hiện dự án do các Vụ, Ban, Thanh tra Y tế trong cơ quan Bộ Y tế gửi về Ban Quản lý các dự án để tổng hợp báo cáo Bộ Y tế. Các dự án đầu tư XDCB: Quyết toán dự án gửi về Bộ Y tế (Vụ Trang thiết bị và Công trình Y tế) và Kho bạc Nhà nước.
  Điều 37. Trường hợp dự án do đơn vị HCSN trực thuộc Bộ Y tế là Đơn vị thực hiện dự án, đầu mối làm thủ tục xác nhận viện trợ và tiếp nhận tiền, hàng viện trợ nhưng có nhiều Đơn vị tham gia dự án ở các địa phương, Bộ, Ngành khác trực tiếp thụ hưởng nguồn viện trợ. Khi dự án kết thúc, hoặc khi kết thúc giai đoạn, Đơn vị thực hiện phải báo cáo Bộ Y tế để làm thủ tục bàn giao kinh phí khi kết thúc giai đoạn, bàn giao nguồn (tài sản và kinh phí) khi kết thúc dự án. Quyết định bàn giao của Bộ Y tế là căn cứ để Đơn vị thực hiện dự án ghi giảm nguồn, đơn vị tham gia dự án ghi tăng nguồn và quyết toán với Sở Tài chính Vật giá địa phương, Vụ Tài chính Kế toán hoặc Ban Tài chính Kế toán các Bộ, Ngành (trừ trường hợp chương trình, dự án có quy định riêng).
  Điều 38. Khi dự án kết thúc nếu còn thừa kinh phí, Thủ trưởng Đơn vị thực hiện dự án phải báo cáo và đề xuất hướng xử lý với Bộ Y tế để tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính xem xét giải quyết (trừ dự án theo Điều ước quốc tế có quy định khác).
  Điều 39. Khi kết thúc dự án và quyết toán dự án đã được phê duyệt, Thủ trưởng Đơn vị thực hiện dự án phải chủ động tổ chức bàn giao tài sản trên nguyên tắc:
Chương VII — CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
  Điều 40. Thủ trưởng Đơn vị thực hiện dự án tự tổ chức kiểm tra định kỳ hoặc kiểm toán nội bộ về tiến độ thực hiện các mục tiêu của dự án, công tác quản lý tài chính của dự án trên các mặt chấp hành chế độ ghi chép sổ sách kế toán, chế độ chi tiêu, quản lý tài sản và chế độ lưu giữ chứng từ, báo cáo tài chính. Ban Quản lý các dự án Bộ Y tế kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất các Đơn vị thực hiện dự án thuộc quyền quản lý về các mặt: Công tác quản lý tài chính của các dự án, nội dung thực hiện những cam kết với cơ quan tài trợ.
  Điều 41. Bộ Y tế (Vụ Tài chính Kế toán, Vụ Kế hoạch) thường xuyên hoặc đột xuất tổ chức kiểm tra công tác quản lý tài chính kế toán của các dự án, tiến độ và nội dung dự án, phối hợp với Bộ Tài chính kiểm tra đột xuất các Đơn vị thực hiện dự án và đơn vị tham gia dự án về công tác chấp hành luật Ngân sách Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối, quản lý tài chính Nhà nước và quản lý tài sản đối với nguồn viện trợ không hoàn lại.
  Điều 42. Thủ trưởng các Đơn vị thực hiện dự án có nguồn viện trợ không hoàn lại phải tổ chức quản lý chặt chẽ, chi tiêu tiết kiệm và chỉ đạo bộ phận quản lý tài chính tổ chức hạch toán kế toán, mở sổ sách theo dõi và chấp hành báo cáo tài chính theo quy định.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.