Căn cứ: Luật số 41/2024/QH15 · Thông tư số 12/2025/TT-BNV · Luật số 113/2025/QH15 — xem văn bản gốc ↓
Điều kiện chính là đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong 12 tháng liền kề trước khi sinh con (Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, Điều 50 khoản 2). Hai trường hợp riêng: người đã đóng từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thì chỉ cần đủ 03 tháng trong 12 tháng trước khi sinh (khoản 3); người phải nghỉ việc để điều trị vô sinh thì cần đủ 06 tháng trong 24 tháng (khoản 5).
Cách đếm 12 tháng (Thông tư 12/2025/TT-BNV, Điều 8 khoản 2): sinh trước ngày 15 của tháng thì tháng sinh không tính, 12 tháng là 12 tháng trước đó; sinh từ ngày 15 trở đi mà tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tháng sinh được tính vào 12 tháng. Ví dụ: đóng từ tháng 4 đến hết tháng 9/2026 (06 tháng) rồi nghỉ việc, sinh tháng 01/2027 — 12 tháng liền kề là 01/2026 đến 12/2026, trong đó có đủ 06 tháng đóng, nên đủ điều kiện. Thời gian đóng không cần liên tục và có thể ở nhiều công ty khác nhau, miễn là đủ số tháng trong khoảng 12 tháng đó.
Người đủ điều kiện mà chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con vẫn được hưởng chế độ thai sản khi sinh con và trợ cấp một lần khi sinh con (Điều 50 khoản 4, dẫn Điều 53 và Điều 58 khoản 1–3). Có hai điểm khác người còn đi làm: thời gian hưởng thai sản sau khi đã nghỉ việc không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội (Điều 50 khoản 4; Thông tư 12/2025/TT-BNV, Điều 9 khoản 4 điểm b), và khoản 4 không dẫn tới chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản (Điều 60). Người còn đi làm thì thời gian nghỉ sinh con được tính là thời gian đóng và hai bên không phải đóng cho thời gian đó (Điều 53 khoản 8).
Mức hưởng: mỗi tháng nghỉ được trợ cấp bằng 100% bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản; thời gian đóng không liên tục thì cộng dồn (Điều 59 khoản 1; Thông tư 12/2025/TT-BNV, Điều 10 khoản 1). Ngoài ra có trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng sinh (Điều 58 khoản 4). Mức đang hưởng không được điều chỉnh khi Chính phủ tăng lương cơ sở, mức tham chiếu hay lương tối thiểu vùng (Thông tư 12/2025/TT-BNV, Điều 10 khoản 3).
Thời gian nghỉ khi sinh con theo Bộ luật Lao động, Điều 139 khoản 1 (Điều 53 khoản 1 Luật Bảo hiểm xã hội dẫn tới). Từ 01/7/2026, Luật Dân số 113/2025/QH15 sửa khoản này (Điều 29 khoản 1; hiệu lực Điều 30 khoản 1): nghỉ 06 tháng, sinh con thứ hai thì 07 tháng, nghỉ trước khi sinh không quá 02 tháng; sinh đôi trở lên thì từ con thứ hai mỗi con thêm 01 tháng. "Sinh con thứ hai" là khi tại thời điểm sinh người mẹ có một con đẻ còn sống (Nghị định 168/2026/NĐ-CP, Điều 2 khoản 1 điểm a, hiệu lực 01/7/2026, Điều 14 khoản 1); đã có hai con đẻ còn sống thì lần sinh tiếp theo vẫn là 06 tháng. Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được nghỉ 05 ngày làm việc khi vợ sinh, 10 ngày làm việc khi vợ sinh đôi hoặc sinh con thứ hai (Luật Bảo hiểm xã hội, Điều 53 khoản 2, điểm c do Luật Dân số Điều 29 khoản 2 sửa).
Hồ sơ khi sinh con là bản sao giấy khai sinh, trích lục khai sinh hoặc bản sao giấy chứng sinh của con (Điều 61 khoản 1). Người còn đi làm nộp cho công ty chậm nhất 45 ngày kể từ ngày hết thời gian nghỉ; công ty lập danh sách nộp cơ quan bảo hiểm xã hội trong 07 ngày làm việc, và cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết trong 07 ngày làm việc (Điều 62 khoản 1, 3). Người đã nghỉ việc trước khi sinh, hoặc công ty không còn, tự nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội; thời hạn giải quyết là 05 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do (Điều 62 khoản 2, 3).
Trả lời chính thức trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (chinhsachonline.chinhphu.vn). Tóm tắt do vandap viết; bấm vào câu hỏi để đọc nguyên văn tại nguồn.
Người đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc liên tục từ 2019 đến tháng 3/2026 rồi nghỉ việc, dự sinh tháng 8/2026, vẫn đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản vì đã đóng đủ 06 tháng trong 12 tháng liền kề trước khi sinh (Luật Bảo hiểm xã hội 2024, Điều 50 khoản 2).
Nghỉ 07 tháng chỉ áp dụng khi tại thời điểm sinh người mẹ có một con đẻ còn sống (Luật Dân số Điều 14 khoản 1 điểm a; Nghị định 168/2026 Điều 2 khoản 1 điểm a). Người đã có hai con đẻ còn sống thì khi sinh con thứ ba (một con) vẫn nghỉ 06 tháng, nếu đủ điều kiện đóng bảo hiểm xã hội theo Điều 50.
Thời gian nghỉ 07 tháng khi sinh con thứ hai chỉ áp dụng khi ngày sinh từ 01/7/2026 trở đi, ngày Luật Dân số có hiệu lực; trợ cấp bằng bình quân tiền lương đóng của 06 tháng trước khi nghỉ nhân số tháng nghỉ, cộng trợ cấp một lần bằng 02 lần mức tiền tính tại tháng sinh (cơ quan ghi "lương cơ sở"; Luật Bảo hiểm xã hội 2024 Điều 58 khoản 4 gọi là mức tham chiếu).
Nêu ba mốc của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 Điều 50: đủ 06 tháng trong 12 tháng trước khi sinh; đủ 03 tháng nếu đã đóng từ đủ 12 tháng và phải nghỉ dưỡng thai theo chỉ định; đủ 06 tháng trong 24 tháng nếu phải nghỉ điều trị vô sinh. Hỗ trợ khi sinh con trước 35 tuổi thì hỏi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.
Văn bản gốc do cơ quan nhà nước công bố. Nội dung trên trang này là tóm tắt của vandap — đối chiếu điều, khoản được viện dẫn trong văn bản gốc trước khi áp dụng.