Căn cứ: Nghị định số 168/2025/NĐ-CP · Nghị định số 296/2026/NĐ-CP · Nghị định số 252/2026/NĐ-CP · Thông tư số 90/2026/TT-BTC · Nghị quyết số 198/2025/QH15 · Nghị định số 362/2025/NĐ-CP · Nghị định số 125/2020/NĐ-CP · Nghị định số 310/2025/NĐ-CP — xem văn bản gốc ↓
Ai báo cho ai. Doanh nghiệp, chi nhánh, địa điểm kinh doanh và hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh chỉ báo cơ quan đăng ký kinh doanh; cơ quan thuế cập nhật trạng thái tạm ngừng từ thông tin cơ quan đăng ký kinh doanh chuyển sang, không cần một thông báo thuế riêng (Thông tư 90/2026/TT-BTC, Điều 12 khoản 3). Tổ chức và cá nhân kinh doanh không thuộc diện đăng ký kinh doanh thì gửi Thông báo mẫu 23/ĐKT thẳng cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất 01 ngày làm việc trước khi tạm ngừng, mỗi lần không quá 12 tháng (Nghị định 252/2026, Điều 6 khoản 3 điểm g.2; Thông tư 90/2026, Điều 11 khoản 1, Điều 25 khoản 1); kinh doanh trở lại đúng hạn đã báo thì không phải báo lại, trở lại trước hạn thì báo chậm nhất 01 ngày làm việc trước (điểm g.3, g.4). Người đang bị cơ quan thuế thông báo "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" phải khôi phục mã số thuế trước rồi mới được tạm ngừng (Nghị định 252/2026, Điều 7 khoản 1 điểm e.2).
Doanh nghiệp (Nghị định 168/2025, Điều 60 khoản 1, sửa bởi Nghị định 296/2026, Điều 11 khoản 1): gửi hồ sơ đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng; muốn tạm ngừng tiếp khi hết hạn thì gửi lại chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tiếp tục tạm ngừng. Mỗi lần thông báo không quá 12 tháng. Điểm mới từ 23/7/2026: tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá 24 tháng. Trước đó Nghị định 168/2025 chỉ giới hạn 12 tháng mỗi lần, không giới hạn số lần. Hồ sơ gồm thông báo tạm ngừng (nay phải ghi số điện thoại, thư điện tử của người đại diện theo pháp luật) và nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu, Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị (khoản 2). Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét trong 01 ngày làm việc (khoản 4) và chuyển cả chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đang hoạt động sang trạng thái tạm ngừng (khoản 5).
Doanh nghiệp đã tạm ngừng từ trước 23/7/2026 (Nghị định 296/2026, Điều 21 khoản 1): thời gian đã tạm ngừng trước đó được cộng vào. Nếu đến hết kỳ tạm ngừng đã báo gần nhất mà tổng thời gian liên tiếp chưa quá 24 tháng thì được báo tạm ngừng tiếp, nhưng tổng cộng không quá 24 tháng; nếu đã quá 24 tháng thì hết kỳ đó không được tạm ngừng tiếp. Ví dụ: công ty tạm ngừng liên tục từ 01/01/2025 và đã báo đến 31/12/2026 thì hết kỳ này là đủ 24 tháng, sau ngày 31/12/2026 không được báo tạm ngừng thêm — công ty phải kinh doanh trở lại hoặc làm thủ tục giải thể. Nghị định không định nghĩa thế nào là "liên tiếp"; một khoảng kinh doanh trở lại ngắn có làm đếm lại từ đầu hay không thì văn bản chúng tôi đọc chưa nói.
Khi hết hạn tạm ngừng (Nghị định 168/2025, Điều 60 khoản 8, bổ sung bởi Nghị định 296/2026; áp dụng cho thông báo tạm ngừng gửi từ 23/7/2026, Điều 21 khoản 2): trong 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kỳ tạm ngừng, người đại diện theo pháp luật phải xác nhận trên Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp việc tiếp tục kinh doanh và cam kết đã làm đủ nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp. Không xác nhận thì trong 10 ngày làm việc tiếp theo cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo và báo cơ quan thuế; không báo cáo trong 06 tháng thì bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và phải giải thể. Trong thời gian tạm ngừng, thay đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp vẫn phải đăng ký, thông báo (khoản 7). Muốn kinh doanh trở lại trước hạn đã báo thì gửi thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất 03 ngày làm việc trước (khoản 1).
Hộ kinh doanh (Nghị định 168/2025, Điều 103): tạm ngừng từ 15 ngày trở lên thì gửi giấy đề nghị đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp xã chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tạm ngừng; mỗi lần không quá một năm; muốn tạm ngừng tiếp thì gửi lại chậm nhất 03 ngày làm việc trước ngày tiếp tục tạm ngừng; cấp xã xác nhận trong 01 ngày làm việc. Giới hạn tổng 24 tháng của Nghị định 296/2026 viết cho doanh nghiệp; với hộ kinh doanh, Nghị định này chỉ bổ sung nghĩa vụ đăng ký thay đổi thông tin trong thời gian tạm ngừng (Điều 103 khoản 5).
Thuế trong thời gian tạm ngừng (Nghị định 252/2026, Điều 7 khoản 1 điểm c; Điều 11 khoản 4): không phải nộp hồ sơ khai thuế cho kỳ tạm ngừng trọn; tạm ngừng không trọn tháng, quý, năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn nộp tờ khai tháng, quý và hồ sơ quyết toán năm. Ví dụ: tạm ngừng từ 15/02 đến 31/12 thì quý 1 vẫn nộp tờ khai (ngừng không trọn quý), quý 2 đến quý 4 không nộp, và vẫn quyết toán năm. Chỉ thời gian đã được ghi nhận tạm ngừng mới được miễn nộp tờ khai: báo tạm ngừng tiếp muộn để lại một khoảng không tạm ngừng thì khoảng đó vẫn phải khai. Trong thời gian tạm ngừng không được dùng hóa đơn; nếu được cơ quan thuế chấp thuận dùng hóa đơn thì phải khai thuế. Tạm ngừng không dừng việc đôn đốc nợ thuế, cưỡng chế, tạm hoãn xuất cảnh hay kiểm tra (điểm c.2, c.3).
Lệ phí môn bài: Quốc hội chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ 01/01/2026 (Nghị quyết 198/2025/QH15, Điều 10 khoản 7); Nghị định 362/2025/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định 139/2016/NĐ-CP và 22/2020/NĐ-CP về lệ phí môn bài từ cùng ngày (Điều 6 khoản 1, khoản 4). Vì vậy từ năm 2026, tạm ngừng hay không không còn ảnh hưởng đến môn bài.
Báo muộn với cơ quan thuế (Nghị định 125/2020/NĐ-CP, Điều 10, sửa bởi Nghị định 310/2025/NĐ-CP — mức dưới đây là mức cho tổ chức, cá nhân và hộ kinh doanh chịu một nửa, Điều 7 khoản 4 điểm a, Điều 5 khoản 5): thông báo tạm ngừng quá hạn từ 01 đến 10 ngày và có tình tiết giảm nhẹ thì cảnh cáo (khoản 1 điểm a); thông báo tạm ngừng quá hạn khác hoặc không thông báo tạm ngừng thì phạt từ 1 đến 2 triệu đồng (khoản 2 điểm b, c). Thông báo kinh doanh trở lại trước hạn mà quá hạn: từ 1 đến 2 triệu đồng nếu quá 01–30 ngày, từ 3 đến 6 triệu đồng nếu 31–90 ngày, từ 6 đến 10 triệu đồng nếu từ 91 ngày (khoản 2 điểm a, khoản 3, khoản 4 điểm a); không thông báo kinh doanh trở lại trước hạn mà không phát sinh số thuế phải nộp: từ 6 đến 10 triệu đồng (khoản 4 điểm b). Điều 10 phạt việc thông báo với cơ quan thuế; trang này không nêu mức phạt khi báo muộn với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Trả lời chính thức trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (chinhsachonline.chinhphu.vn). Tóm tắt do vandap viết; bấm vào câu hỏi để đọc nguyên văn tại nguồn.
Câu hỏi: hộ kinh doanh đăng ký năm 2020 nhưng chưa từng hoạt động, nay muốn trả giấy phép thì bị yêu cầu đăng ký thuế và nộp phạt. Cơ quan thuế trả lời: chưa đăng ký thuế quá 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh bị phạt theo Nghị định 125/2020 Điều 10 khoản 4 điểm a — cùng điều phạt thông báo tạm ngừng muộn — và khó khăn kinh tế không phải bất khả kháng nên không được miễn phạt; muốn trả giấy phép thì chấm dứt hiệu lực mã số thuế sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế (Thông tư 86/2024 Điều 29–30, từ 01/7/2026 là Thông tư 90/2026/TT-BTC Điều 27–29).
Văn bản gốc do cơ quan nhà nước công bố. Nội dung trên trang này là tóm tắt của vandap — đối chiếu điều, khoản được viện dẫn trong văn bản gốc trước khi áp dụng.