Nghị định · Chính phủ

Nghị định 95/2005/NĐ-CP

Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,quyền sở hữu công trình xây dựng

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
15/07/2005
Ngày có hiệu lực
10/08/2005
Hết hiệu lực
10/12/2009
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (50)

Thay thế / bãi bỏ (1)

Hướng dẫn thi hành (5)

Bố cục (24 điều)

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Điều 3. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng
Điều 4. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
Điều 5. Ghi tên chủ sở hữu trên giấy chứng nhận
Điều 6. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng không còn giá trị pháp lý
Điều 7. Điều kiện áp dụng đối với cá nhân
Điều 8. Điều kiện áp dụng đối với tổ chức
Điều 9. Hồ sơ áp dụng đối với cá nhân trong nước
Điều 10. Hồ sơ áp dụng đối với cá nhân là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài
Điều 11. Hồ sơ áp dụng đối với tổ chức
Điều 12. Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với cá nhân
Điều 13. Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với tổ chức
Điều 14. Trường hợp được cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận
Điều 15. Hồ sơ đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận
Điều 16. Trình tự, thủ tục cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận
Điều 17. Xác nhận thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận
Điều 18. Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực cấp và sử dụng giấy chứng nhận
Điều 19. Xử lý vi phạm
Điều 20. Giải quyết khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng
Điều 21. Trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan
Điều 22. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Điều 23. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã
Điều 24. Hiệu lực thi hành

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.