Căn cứ: Bộ luật số 45/2019/QH14 · Nghị định số 145/2020/NĐ-CP · Luật số 74/2025/QH15 · Nghị định số 253/2026/NĐ-CP · Nghị định số 283/2026/NĐ-CP — xem văn bản gốc ↓
Ai được trợ cấp thôi việc: người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên, khi hợp đồng chấm dứt vì hết hạn, hoàn thành công việc, hai bên thỏa thuận, người lao động bị phạt tù không hưởng án treo, chết hoặc mất năng lực hành vi, doanh nghiệp chấm dứt hoạt động (kể cả giải thể), người lao động đơn phương chấm dứt đúng luật, hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt theo Điều 36 (Bộ luật Lao động 45/2019/QH14, Điều 46 khoản 1, dẫn Điều 34 các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9, 10). Không được trợ cấp khi: đủ điều kiện hưởng lương hưu; tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục không có lý do chính đáng (Điều 36 khoản 1 điểm e — lý do chính đáng gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân hoặc thân nhân ốm có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và trường hợp nội quy quy định, Điều 125 khoản 4; Nghị định 145/2020/NĐ-CP, Điều 8 khoản 1); bị sa thải (Điều 34 khoản 8 không có trong danh sách); thử việc không đạt (khoản 13).
Tự xin nghỉ việc vẫn được, nếu nghỉ đúng luật: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng phải báo trước ít nhất 45 ngày (không xác định thời hạn), 30 ngày (xác định thời hạn 12–36 tháng), 03 ngày làm việc (dưới 12 tháng); không cần báo trước khi bị trả lương không đủ hoặc không đúng hạn, bị ngược đãi, quấy rối tình dục, không được bố trí đúng công việc, địa điểm, lao động nữ mang thai phải nghỉ và các trường hợp khác ở Điều 35 khoản 2. Đó là khoản 9 Điều 34, có trong danh sách hưởng trợ cấp. Bộ Nội vụ (24/6/2026) trả lời đúng tình huống công ty từ chối vì "người lao động tự xin nghỉ": khoản 9 Điều 34 vẫn được trợ cấp. Ngược lại, nghỉ không đúng Điều 35 (chẳng hạn không báo trước đủ ngày) là đơn phương chấm dứt trái pháp luật (Điều 39): không được trợ cấp thôi việc, phải bồi thường nửa tháng lương cộng tiền lương những ngày không báo trước, và hoàn chi phí đào tạo nếu có (Điều 40).
Thời gian được tính: tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm trước đó (Bộ luật Lao động, Điều 46 khoản 2; Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 3). Thời gian làm việc thực tế gồm cả thời gian thử việc, được cử đi học, nghỉ ốm đau, thai sản, ngừng việc không do lỗi người lao động, nghỉ phép, nghỉ lễ có lương (điểm a). Thời gian bị trừ gồm thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp và cả thời gian không thuộc diện đóng nhưng đã được trả kèm lương một khoản tương đương mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp (điểm b). Luật Việc làm 74/2025/QH15 (hiệu lực 01/01/2026) giữ nguyên: thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc, mất việc làm (Điều 35 khoản 3), và người làm theo hợp đồng thử việc không thuộc diện đóng (Điều 31 khoản 2). Vì vậy người đã đóng bảo hiểm thất nghiệp suốt thời gian làm thường chỉ còn phần thử việc để tính; điều kiện "đủ 12 tháng" thì xét trên toàn bộ thời gian làm việc, không trừ.
Cách tính: số năm làm tròn theo Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 3 điểm c — đủ 12 tháng là 1 năm; tháng lẻ từ 06 tháng trở xuống tính 1/2 năm, trên 06 tháng tính 1 năm. Tiền lương làm căn cứ là tiền lương bình quân theo hợp đồng của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc (Bộ luật Lao động, Điều 46 khoản 3; Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 5). Trợ cấp thôi việc = số năm × 1/2 × lương bình quân. Ví dụ: làm 26 tháng, thử việc 2 tháng không đóng bảo hiểm, 24 tháng còn lại đều đóng bảo hiểm thất nghiệp; công ty giải thể (Điều 34 khoản 7). Đủ điều kiện vì đã làm trên 12 tháng; thời gian tính = 2 tháng = 1/2 năm; trợ cấp = 1/2 × 1/2 = 1/4 tháng lương bình quân. Nếu 24 tháng đó công ty thuộc diện mà không đóng bảo hiểm thất nghiệp, đó không phải thời gian "đã tham gia" nên theo cách tính ở Điều 8 khoản 3 không bị trừ.
Trợ cấp mất việc làm là khoản khác, cho người bị cho thôi việc vì doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế (khủng hoảng, suy thoái, cơ cấu lại theo chính sách nhà nước) hoặc khi chia, tách, sáp nhập, bán, chuyển đổi doanh nghiệp (Bộ luật Lao động, Điều 34 khoản 11; Điều 42 khoản 5; Điều 43 khoản 3). Mức: mỗi năm làm việc 01 tháng tiền lương, ít nhất 02 tháng tiền lương; thời gian và tiền lương tính như trợ cấp thôi việc (Điều 47; Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 2). Cho thôi việc vì lý do này phải trao đổi với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và người lao động (Điều 42 khoản 6).
Người lao động nước ngoài: Bộ luật Lao động áp dụng cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (Điều 2 khoản 3), nên họ được trợ cấp thôi việc khi đủ điều kiện như trên. Họ không tham gia bảo hiểm thất nghiệp — Luật Việc làm 2025 định nghĩa người lao động là công dân Việt Nam (Điều 2 khoản 1) — và người sử dụng lao động phải trả kèm lương khoản tương đương mức đóng cho người không thuộc diện tham gia (Bộ luật Lao động, Điều 168 khoản 3). Thời gian đã được trả khoản tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp bị trừ như thời gian đã đóng (Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 3 điểm b); Bộ Nội vụ (8/4/2026) trả lời đúng như vậy.
Thời hạn trả: trong 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, thay đổi cơ cấu, vì lý do kinh tế, chia tách, sáp nhập, hoặc do thiên tai, dịch bệnh; khi doanh nghiệp giải thể, phá sản, trợ cấp thôi việc được ưu tiên thanh toán (Bộ luật Lao động, Điều 48 khoản 1, 2). Khoản chi được hạch toán vào chi phí của người sử dụng lao động (Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 6).
Thuế TNCN: trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm không tính vào thu nhập chịu thuế (Luật Thuế thu nhập cá nhân 109/2025/QH15, Điều 3 khoản 2 điểm c; Nghị định 253/2026/NĐ-CP, Điều 8 khoản 3 điểm h, áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026 theo Điều 69 khoản 1 điểm a). Nếu quy chế tài chính, quy chế nội bộ, hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động quy định mức cao hơn luật thì phần trả vượt cũng không tính thuế (điểm h). Khoản trả thêm không có trong các văn bản đó thì không thuộc điểm h.
Mức phạt: từ ngày 10/9/2026, người sử dụng lao động không trả hoặc trả không đủ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm bị phạt theo số người lao động bị vi phạm, từ 1–2 triệu đồng (01 đến 10 người) đến 15–20 triệu đồng (từ 301 người) — mức của cá nhân; doanh nghiệp bị phạt gấp 2 lần, và buộc trả đủ cộng tiền lãi theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt (Nghị định 283/2026/NĐ-CP, Điều 18 khoản 2, khoản 4 điểm a; Điều 7 khoản 1, 2).
Trả lời chính thức trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (chinhsachonline.chinhphu.vn). Tóm tắt do vandap viết; bấm vào câu hỏi để đọc nguyên văn tại nguồn.
Câu hỏi: người lao động làm từ 02/2025 đến 21/3/2026 (2 tháng đầu thử việc, không đóng bảo hiểm), đơn phương chấm dứt hợp đồng theo khoản 9 Điều 34 và đã bàn giao công việc; công ty trả lời người tự xin nghỉ thì không có trợ cấp thôi việc. Trả lời: trường hợp chấm dứt theo khoản 9 Điều 34 thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng (Bộ luật Lao động, Điều 46 khoản 1); thời gian tính là tổng thời gian làm việc thực tế, gồm cả thử việc, trừ thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp (Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 3) — người lao động đề nghị công ty trả theo đúng quy định.
Câu hỏi: người lao động thử việc 60 ngày từ 01/02/2020 (lương thỏa thuận đã gồm các khoản bảo hiểm), sau đó ký hợp đồng có thời hạn rồi không thời hạn, xin thôi việc ngày 01/01/2026 — công ty có phải trả trợ cấp thôi việc cho thời gian thử việc không. Trả lời: người làm theo hợp đồng thử việc không thuộc đối tượng bảo hiểm thất nghiệp, nên thời gian thử việc được tính là thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc (dẫn Luật Việc làm 2013, Điều 43 khoản 1, Điều 45 khoản 3 — Luật Việc làm 74/2025 giữ cùng quy tắc ở Điều 31 khoản 2, Điều 35 khoản 3). Câu trả lời không bàn việc lương thử việc đã gồm khoản tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp; Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 3 điểm b tính thời gian được trả khoản đó là thời gian đã tham gia, bị trừ.
Câu hỏi: công ty tuyển người nước ngoài có giấy phép lao động từ 02/2023, hằng tháng trả thêm vào lương khoản tương đương 1% bảo hiểm thất nghiệp; tháng 10/2025 người lao động thôi việc đúng quy định — có phải trả trợ cấp thôi việc không. Trả lời: người nước ngoài không thuộc đối tượng bảo hiểm thất nghiệp và được trả kèm lương khoản tương đương mức đóng (Bộ luật Lao động, Điều 168 khoản 3); họ được trợ cấp thôi việc khi đủ điều kiện Điều 46, tính theo Nghị định 145/2020, Điều 8 khoản 3, nhưng thời gian đã được trả khoản tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính.
Văn bản gốc do cơ quan nhà nước công bố. Nội dung trên trang này là tóm tắt của vandap — đối chiếu điều, khoản được viện dẫn trong văn bản gốc trước khi áp dụng.